Chương 1 LÝ LUẬN CHUNG VỀ QUYỀN THAM GIA CHÍNH TRỊ 1. Chính trị và hệ thống chính trị 1. Chính trị Thuật ngữ “Chính trị” được nhắc đến khá sớm trong lịch sử bởi các Triết gia như Plato, Aristotle, Khổng Tử… Trong từng thời kỳ, từng giai đoạn lịch sử khác nhau, thì quan niệm về chính trị cũng như chủ thể tham gia chính trị cũng hoàn toàn khác nhau. Trong xã hội chiếm hữu nô lệ, xã hội phong kiến, khi quyền lực nhà nước thuộc về một người (vua) hoặc một nhóm người (giai cấp quý tộc, chủ nô), người dân chỉ có nghĩa vụ phục tùng vô điều kiện mà không có quyền tham gia vào các hoạt động quản lý và điều hành đất nước, khi đó chính trị có nghĩa là nghệ thuật cai trị và quản lý đất nước hay Khoa học giành và nắm giữ quyền lực.
Bước sang thời kỳ Nhà nước tư bản, các trào lưu triết học ánh sáng thế kỷ 18 đã được hình thành với sự xuất hiện của nhiều nhà tư tưởng lỗi lạc như Rousseau, Montesquier, Thomas Paine… Từ đó, hàng loạt học thuyết về chủ nghĩa tự do, khẳng định quyền sống, quyền tự do, an ninh thân thể, quyền tự do tôn giáo, tự do ngôn luận cũng ra đời. Đặc biệt là tác phẩm Khế ước xã hội của J. Rousseau với một lý thuyết hoàn toàn mới về nguồn gốc và bản chất của Nhà nước.Rousseau, Nhà nước không phải là một thế lực thống trị xã hội mà là một tổ chức quyền lực công, được người dân trao cho quyền lực và đổi lại họ được sống dưới sự bảo vệ của Nhà nước trong một trật tự luật pháp do Nhà nước ban hành (luật pháp không trái với đạo đức và luân lý). Dưới nhãn quan triết học này, quyền lực chính trị xuất phát từ dân chúng, nó được tạo lập để phục vụ xã hội.
Từ đây, Chính trị được hiểu là nghệ thuật 8 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com hay khoa học vận hành và quản lý xã hội bằng quyền lực Nhà nước nhưng nó phải bị hạn chế bằng luật pháp và được giám sát bởi người dân thông qua các tổ chức xã hội, nghề nghiệp, tôn giáo. Ở Việt Nam, theo Từ điển Bách khoa, Chính trị là toàn bộ những hoạt động có liên quan đến các mối quan hệ giai cấp, dân tộc, quốc gia và các tầng lớp xã hội, mà cốt lõi là vấn đề giành chính quyền, duy trì và sử dụng quyền lực nhà nước, xác định hình thức tổ chức, nhiệm vụ nội dung hoạt động của nhà nước [38]. Như vậy, chính trị bao giờ cũng gắn liền với giai cấp.I Lênin:“Chính trị phải là việc của nhân dân, việc của giai cấp vô sản" [43]. Khái quát lại, theo quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin, chính trị là mối quan hệ giữa các giai cấp, quốc gia xoay quanh vấn đề giành, giữ và thực thi quyền lực chính trị, mà tập trung nhất là quyền lực nhà nước.
Có thể thấy, quyền tham gia chính trị phải dựa trên cơ sở quyền lực chính trị, và thuộc về đối tượng nắm giữ quyền lực chính trị. Trong chế độ xã hội chủ nghĩa, với vị trí là chủ đất nước,người dân thuộc mọi thành phần, không phân biệt tầng lớp đều có đủ tư cách để tham gia trực tiếp hoặc gián tiếp vào đời sống chính trị thông qua những hoạt động xã hội cụ thể của mình. Hệ thống chính trị Hệ thống chính trị là một trong những vấn đề cơ bản, chi phối mọi mặt đời sống chính trị - xã hội của các quốc gia. Để xác định đối tượng tác động của quyền tham gia chính trị, theo tác giả cần làm rõ khái niệm hệ thống chính trị, các yếu tố cấu thành hệ thống chính trị.
Khi xã hội loài người xuất hiện chế độ tư hữu, xã hội cũng bắt đầu phân hoá thành các nhóm xã hội, giai tầng có địa vị khác nhau, có quyền và lợi ích khác nhau. Các nhóm xã hội, tầng lớp này dần hình thành các lực lượng chính trị - xã hội. Nhằm bảo vệ, củng cố lợi ích của mình, mỗi nhóm xã hội, mỗi giai tầng, mỗi lực lượng chính trị xã hội đã thiết lập các thiết chế xã hội đặc 9 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com trưng. Trong quá trình tồn tại và phát triển, giữa các thiết chế chính trị - xã hội luôn có sự liên hệ ràng buộc, tác động qua lại và ảnh hưởng lẫn nhau hình thành nên hệ thống chính trị - xã hội.
Như vậy có thể hiểu hệ thống chính trị là liên minh các thiết chế chính trị - xã hội có liên hệ mật thiết, tồn tại và hoạt động nhằm bảo đảm sự tồn tại và phát triển của toàn xã hội đồng thời bảo vệ lợi ích, thực hiện những mục đích của giai cấp thống trị trong xã hội. Về cấu trúc hình thức, hệ thống chính trị là một tập hợp các thiết chế chính trị - xã hội được thành lập và hoạt động vì những mục đích chính trị xã hội khác nhau. Các thiết chế đó gồm có nhà nước, các đảng phái chính trị, các tổ chức đoàn thể chính trị - xã hội, trong đó nhà nước là tổ chức quan trọng nhất. Các tổ chức đó được sắp xếp theo một trật tự khách quan, khoa học và luôn có mối liên hệ ràng buộc lẫn nhau [30].
Về nội dung, hệ thống chính trị được hiểu là một cơ chế thực hiện quyền lực chính trị trong xã hội. Có thể nói, quyền lực chính trị là cốt lõi của Hệ thống chính trị. Quyền lực đó được vật chất hoá bằng các thiết chế chính trị xã hội và được biểu hiện thông qua các quan hệ chính trị giữa các lực lượng chính trị - xã hội. Đây là khái niệm phản ánh đặc trưng của những quan hệ quyền lực chính trị; cũng như các bộ phận, các nhân tố tham gia vào các quá trình, quy trình chính trị trong thể chế chính trị dân chủ hiện đại (dân chủ xã hội chủ nghĩa, dân chủ tư bản chủ nghĩa) [8].
Tuỳ theo các cách tiếp cận khác nhau về nội dung, hình thức hay cách thức tổ chức vận hành của hệ thống chính trị mà có nhiều cách định nghĩa về Hệ thống chính trị. Nhưng xét một cách nhất quán nhất có thể định nghĩa: “Hê ̣ thố ng chính tri ̣ là một chỉnh thể thống nhất bao gồm các bộ phận cấu thành là các thiết chế chính trị có vị trí, vai trò khác nhau nhưng có mối quan hệ mật thiết với nhau trong quá trình tham gia thực hiện quyền lực chính trị” [8]. 10 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Từ quan điểm trên có thể xem Hệ thống chính trị là khái niệm dùng để chỉ một chỉnh thể bao gồm các tổ chức như: Đảng chính trị, nhà nước, các tổ chức chính trị - xã hội (hợp pháp); với những quan hệ tác động qua lại giữa các nhân tố đó trong việc tham gia vào các quá trình hoạch định và thực thi các quyết sách chính trị nhằm bảo đảm quyền thống trị của giai cấp, lực lượng cầm quyền, đồng thời đáp ứng nhu cầu ổn định và phát triển xã hội. Các yếu tố cấu thành của Hệ thống chính trị Hệ thống chính trị được cấu thành từ nhiều bộ phận chức năng khác nhau.
Có thể coi mỗi bộ phận đó là một tiểu hệ thống của hệ thống chính trị. Như vậy, cấu trúc của hệ thống chính trị gồm các bộ phận sau: - Đảng chính trị, là một hiện tượng đặc thù của xã hội có phân chia giai cấp và đấu tranh giai cấp. Đảng chính trị - yếu tố cơ bản của hệ thống chính trị, hệ thống tổ chức quyền lực chính trị, của chế độ chính trị và xã hội công dân - là công cụ tập hợp của một giai cấp; tổ chức lãnh đạo đấu tranh giai cấp vì mục tiêu giành, giữ, sử dụng quyền lực nhà nước và định hướng chính trị cho phát triển xã hội. - Nhà nước, là một tổ chức đặc biệt của quyền lực chính trị được giai cấp thống trị thành lập nhằm thực hiện quyền lực chính trị của mình.
Nhà nước vì thế mang bản chất giai cấp. Nhà nước xuất hiện kể từ khi xã hội loài người bị phân chia thành những lực lượng giai cấp đối kháng nhau; nhà nước là bộ máy do lực lượng nắm quyền thống trị (kinh tế, chính trị, xã hội) thành lập nên, nhằm mục đích điều khiển, chỉ huy toàn bộ hoạt động của xã hội trong một quốc gia, trong đó chủ yếu để bảo vệ các quyền lợi của lực lượng thống trị. - Các tổ chức chính trị - xã hội (hợp pháp) bao gồm các tổ chức mà hoạt động của chúng vừa mang tính chính trị, vừa mang tính xã hội. Tùy theo điều kiện, hoàn cảnh lịch sử cụ thể ở mỗi nước mà các tổ chức chính trị xã hội có 11 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com đặc điểm riêng về tổ chức và phương thức hoạt động.
Thông thường các tổ chức này không đặt ra mục tiêu giành hoặc tham gia chính quyền; mà thường vì lợi ích của các thành viên trong tổ chức của mình tìm cách tác động, gây ảnh hưởng đối với chính quyền và đảng phái chính trị [38]. Nguyên tắc hoạt động của hệ thống chính trị Mỗi hệ thống chính trị có những nguyên tắc và cơ chế vận hành riêng từ đó các quan hệ, hành vi chính trị được định hướng và tạo thành một bộ phận hữu cơ của hệ thống. Ngày nay, ở nhiều nước trên thế giới phổ biến một số nguyên tắc sau: - Quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân. Nguyên tắc này xuất phát từ bản chất quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân, nhà nước do nhân dân lập ra, thông qua hoạt động bầu cử, nhân dân trao quyền lực chính trị của mình cho nhà nước để thay mặt mình, thực hiện công việc quản lý, điều hành đất nước.
Do đó, trong mọi hoạt động, Nhà nước luôn phải đảm bảo cho người dân thực hiện quyền lực chính trị của mình bằng các hình thức dân chủ trực tiếp hoặc gián tiếp. Từ nguyên tắc này, phát sinh một loạt các nguyên tắc sinh hoạt và ứng xử chính trị khác liên quan đến việc bảo đảm quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân. - Ủy quyền có điều kiện và có thời hạn: Nguyên tắc này xác định ai là người có thể được ủy quyền và ủy quyền trong bao lâu. Để bảo đảm nguyên tắc này phải xây dựng thể chế bầu cử bao gồm lựa chọn các ứng viên, thể thức bầu cử và thủ tục truất quyền khi cần thiết.