CHƯƠNG 1 MỘT SỐ VẤN ĐỂ CHUNG v ít BẢO HỘ QUYEN t á c g i ả CÓ YẾU TỐ NƯỚC NGOÀI 1.1 K h ái q u á t về tác giả, quyền tác giả và việc bảo hộ quyển tác giả. Ngày nay, với sự phát triển mạnh mẽ của nền kinh tế thế giới, kinh tế tri Ihức, việc khuyên khích các hoạt động sáng tạo trí tuệ ngày càng có vai trò quan trọng trong chiến lược phát triển của mỗi quốc gia. Thực tế cho thấy các thành quả từ hoạt động lao động trí óc có ý nghĩa to lớn về linh thần cũng như vật chất, và từ lâu thuật ngữ “tói sản trí tuệ” đã trở nên thông dụng và khá phổ biến ở các quốc gia, cũng như trong các hoạt động giao lưu kinh tế, văn hoá - xã hội mang tính chất quốc tế. Tài sản trí tuệ (còn gọi là sờ hữu trí tuệ) bao gồm hai lĩnh vực là quyền tác giả và quyền sở hữu công nghiệp.
Để có cái nhìn tổng quan về quyền tác giả - một lĩnh vực mà ở Việt Nam còn khá mới mẻ và phức tạp so với các nước phát triển khác, việc đưa ra khái niệm, nội dung cơ bản của quyền tác giả là cần Ihiết, góp phần làm sáng tỏ khía cạnh lý luận và thực tiễn của vấn đề này.1 Tác giả, chủ sở hữu tác phẩm. Có thể nói, một trong những nội dung đặc biệt quan trọng khi đề cập đến lác giả, quyền tác giả là cẩn phải hiểu rô khái niệm “tác giả” là gì? trôn cơ sở đó mới có thể ghi nhận và bào vệ các quyền của tác giả. Thực tế có khá nhiều luận điểm, ý kiến xung quanh vấn đề này bời như đã đề cập ử trên, đây là một lĩnh vực mới và khá phức tạp ở Việt Nam, vì thế cho đến nay chúng ta cũng chưa đưa ra được khái niệm chính ihức và chuẩn xác về thuật ngữ này. Tác giả - người sáng tạo ra tác phẩm, theo pháp luật Nhật Bản là “ là một [ự nhiên nhân ihực sự đã tạo ra một lác phẩm và trở thành người sỏ hữu vé quyển tác giả đối với tác phẩm dó ngay sau khi đã hoàn thành tác phẩm đỏ ” [51 Theo giải thích của từ diển Tiếng Việt năm 1996, tác giả là “ người sáng tạo ra một lác phẩm văn học, nghệ thuật hoặc khoa học nào đó” [52.tr 851 ] 7 Tác giả, theo qui định cùa pháp luật hiện hành là “ người trực liếp sáng tạo loàn bộ hoặc một phẩn tác phẩm văn học, nghệ thuật, khoa học ” (Khoản 1 Điều 745 BLDS 1995).
Từ những giải thích, định nghĩa Irên có thể nhận thấy, xét về nguồn gốc, tác giả là người trực tiếp sáng tạo ra một sản phẩm trí tuệ, là “ cha sinh, mẹ đẻ" của tác phẩm thuộc các lĩnh vực văn học, nghệ thuật hoặc khoa học. Khác với các lao động sản xuất đưn thuần khác, đặc Irưng của lao động trí óc này là tạo ra sản phẩm trí luệ và thể hiện nó một cách hữu hình. Một người được coi là tác giả của một tác phẩm khi tác phẩm đó được hình Ihành dưới một hình thức vật chất nhất định và phải “cớ lính sáng tạo”, và được người này sáng tạo “ trực tiếp”. Tính “ trực tiếp” ở dây có thể hiểu là lính nguyên gốc của tác phẩm do chính tác giả đã sáng tạo ra, chứ không phải là sự sao chép từ một lác phẩm nào đó của một người nào đó.
Tác phẩm phải là thành quả của quá trình lao động trí óc của chính bản thân người tạo ra nó - tác giả. Tính “sáng tạo” đòi hỏi tác phẩm đó phải có tính mới hoặc về ý tưởng hoặc về hình ihức mà nó thể hiện. Có như vậy, người này mới được coi là lác giả - là chủ sở hữu của lác phẩm đó và có đầy đủ các quyền của một sở hữu chủ đối với tác phẩm của mình, mà theo qui định cùa pháp luật đó là quyén tác giả. Như vậy, cổ thể hiểu lác giả là người trực tiếp sáng tạo ra mộl tác phẩm trí Uiệ và thể hiện nó dưứi một dạng vật chất nhất định thuộc một trong các thể loại văn học, nghệ thuật hoặc khoa học.
Tác giả phái sinh. Thực tô' sinh động của đời sống văn hoá xã hội cho thấy có những tác phẩm được sáng tạo khổng xuất phát lừ ý tưửng đầu tiên mà được hình thành lừ một lác phẩm nguyôn gốc nào dó. Những người sáng tạo ra loại tác phẩm này được coi là tác giả phái sinh - tức là những người mà hoại động trí luệ của họ đổu dựa trên tác phẩm gốc của tác giả khác đổ tạo ra một tác phẩm mới. Tuy nhiên, tác phẩm phái sinh được hình thành khống phải là sự sao chép lác phẩm gốc mà tác phẩm phái sinh này phải đáp ứng được tính mới, lính sáng tạo vổ hình thức, thì người sáng tạo tác phẩm đó mới được coi là tác giả của lác phẩm phái sinh.
Các quyén của các tác giả phái sinh không ảnh hưởng dến quyén tác giả của tác phẩm gốc, nhưng để thực hiên hoạt động sáng lạo của mình, những người này phải tôn trọng bản quyền của tác giả đối với tác phẩm gốc. Tác giả phái sinh gồm có: Dịch giả là người dịch tác phẩm lừ ngồn ngữ này sang ngôn ngữ khác. Với sự phát triển mạnh mẽ của quan hệ quốc tế không những vé kinh tế mà cả Irong 8 lĩnh vực văn hoá - nghê thuật, vai trò của các dịch giả rất cần thiết và quan trọng, nó góp phần thúc đẩy môi quan hệ giao lưu giữa các quốc gia Irôn ihế giới irong việc tìm hiểu bản sắc văn hoá của mỗi nước cũng như thúc đẩy quá trình tiếp cận và áp dụng các sản phẩm khoa học, kỹ thuật, công nghệ của các nước khác. Do đó, pháp luật các nước đều ghi nhận và bảo vệ lao động sáng tạo của dịch giả đối với lác phẩm dịch.
Người phóng tác, cải biên, chuyển thể tác phẩm', như đã đề cập ờ trên tác giả là người sáng tạo ra tác phẩm và thể hiôn tác phẩm đó dưới một hình thức vật chấl nhất định và tác phẩm này phải có tính mới, tính sáng tạo. Tuy nhiên, tính mới, lính sáng lạo ở đây không nhất thiết và bắl buộc là mới, là sáng tạo ở ý tường mà có thể chỉ ờ hình thức, phương thức thể hiện ý tưởng đó. Thực tế cho thấy có rất nhiều tác phẩm được sản sinh dựa trôn một tác phẩm gốc khác (tác phẩm gốc là nguổn cảm hứng cho tác phẩm sau), tác phẩm phái sinh này được thừa nhận là một tác phẩm sáng lạo của một tác giả phái sinh. Do đó, những người phóng tác, cải biên, chuyển thể tác phẩm từ loại hình này sang loại hình khác được thừa nhận là tác già của loại hình tác phẩm mới này.
V í dụ, một bộ phim được chuyển thể từ một tác phẩm văn học; một bài thơ được chuyổn thể sang một tác phẩm âm nhạc; một giai điệu âm nhạc cũ dược cải biên sang một thể loại nhạc mới,. Như vậy, những lao động sáng tạo của các tác giả phái sinh đã góp phẩn làm phong phú, đa dạng các loại hình tác phẩm, làm cho đời sống tinh thần của con người thêm sinh động, giàu màu sắc. Người biên soạn, chú giải, tuyển chọn tác phẩm. Biôn soạn, tuyển chọn tác phẩm của người khác thành tác phẩm có tính sáng tạo là một hoại động có (inh tổng hợp lựa chọn, sắp xếp tư liệu nhầm giúp người đọc có được cái nhìn tổng quan, hộ thống vé một lĩnh vực nào đó.
Tuy nhiên, vỉộc biên soạn, tuyển chọn tác phẩm không chỉ dừng lại ở đó, mà viộc biên soạn, tuyển chọn tác phẩm phải có lính sáng tạo, có như vây mới được coi là tác giả theo đúng nghĩa. Tính sáng tạo của người biôn soạn, tuyển chọn tác phẩm đòi hỏi người làm công tác này phải là người có trình độ, am hiểu sáu rộng về lĩnh vực mà tác phẩm thể hiện để có sự so sánh đối chiếu và chọn lọc tác phẩm điển hình giữa vô vàn các tác phẩm khác. Chú giải là việc làm rõ nghĩa của một số từ, câu, đoạn vãn về một địa danh đưực thể hiện trcn một tác phẩm nào đó nhằm giúp người đọc hiểu rõ được ý tưởng của tác giả. G ) thể hiổu tác giả phái sinh là người tạo ra một tác phẩm mới có tính sáng tạo dựa trên các ý iưỏng của tác phẩm gốc đã có sẵn và khi thực hiện hoạt động sáng tạo trí tuệ này họ phải lôn trọng các quyền của tác giả và luàn iheo các qui định của pháp luậl về bản quyền.
Tác giả có thể sáng tạo toàn bộ hoặc một phần lác phẩm văn học, nghệ thuật, khoa học bởi lẽ cảm hứng sáng tạo nhiều khi không phải từ một người, mà có thể từ một nhóm người. Hiện tượng có lì nhất hai người cùng sáng lạo ra một lác phẩm được gọi là đổng tác giả của tác phẩm đó, và đồng thời là chủ sở hữu chung của lác phẩm đó, trừ trường hợp việc sáng tạo lác phẩm íà do thực hiện một hơp đổng, hoặc thực hiện nhiệm vụ. Các đồng tác giả có các quyền lợi tương ứng với phần tác phẩm mà mồi người đã tạo ra. Chủ sở hữu tác phẩm (chủ sờ hữu quyền tác giả): Để khuyến khích các hoạt động sáng tạo trí tuệ, cá nhàn có (oàn quyền tự do sáng tạo các tác phẩm văn học, nghệ thuật, khoa học phù hợp với pháp luật và quy chuẩn đạo đức xã hội.
Thông thường, một người sáng tạo ra một tác phẩm là tác giả của tác phẩm đó và đồng thời là chủ sở hữu tác phẩm, tuy nhiên cũng có những trường hợp tác giả không đồng thời là chủ sở hữu tác phẩm. Đó là các trường hợp: Thứ nhất, việc lạo ra một lác phẩm để hoàn thành nghĩa vụ trong hợp đồng với tổ chức, cá nhãn khác. Các tổ chức, cá nhân có quyền thuê một người khác sáng tạo mội tác phẩm cho riêng mình dưới hình thức giao kết hợp đổng sáng lạo tác phẩm. Và đo vậy tổ chức, cá nhân này chính là chủ sở hữu của tác phẩm; Thứ hai, tắc phẩm được hình thành là nhiệm vụ được giao đối với người này.
Thực tế cho thấy, thông thường các trường đại học, viện nghiên cứu, học viện, nhà xuất bản. có các hoạt động liôn quan đến các sản phẩm trí luê, và những cơ quan, lổ chức này có quyền giao việc sáng tạo một lác phẩm nào đó cho tác giả như là mội nhiệm vụ chuycn môn của người này.