CHƯƠNG 1 CĂN CỨ ĐỂ ĐÒI LẠI QUYỀN SỬ DỤNG ĐẤT CHO MƯỢN THEO PHÁP LUẬT DÂN SỰ VIỆT NAM 1. Giữa các bên có tồn tại giao dịch cho mượn quyền sử dụng đất 1. Giữa các bên có lập hợp đồng, giao dịch cho mượn quyền sử dụng đất Giữa các bên có lập hợp đồng, giao dịch cho mượn quyền sử dụng đất nghĩa là giữa các bên đã có sự thiết lập những thỏa thuận, điều kiện về mượn tài sản là quyền sử dụng đất. Pháp luật dân sự và pháp luật đất đai của Việt Nam không có quy định về hợp đồng cho mượn quyền sử dụng đất.
Theo Điều 167 Luật Đất đai năm 2013, người sử dụng đất được thực hiện các quyền đối với chủ sử dụng đất, đó là các “quyền chuyển đổi, chuyển nhượng, cho thuê, cho thuê lại, thừa kế, tặng cho, thế chấp, góp vốn quyền sử dụng đất theo quy định của Luật này”. Khoản 1 Điều 168 Luật Đất đai năm 2013 quy định: “Người sử dụng đất được thực hiện các quyền chuyển nhượng, cho thuê, cho thuê lại, tặng cho, thế chấp, góp vốn quyền sử dụng đất khi có Giấy chứng nhận. Đối với trường hợp chuyển đổi quyền sử dụng đất nông nghiệp thì người sử dụng đất được thực hiện quyền sau khi có quyết định giao đất, cho thuê đất; trường hợp nhận thừa kế quyền sử dụng đất thì người sử dụng đất được thực hiện quyền khi có Giấy chứng nhận hoặc đủ điều kiện để cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất”. Như vậy, Luật Đất đai chỉ quy định hợp đồng cho thuê, hoặc cho thuê lại quyền sử dụng đất, chứ không có quy định người có quyền sử dụng đất trong việc cho mượn quyền sử dụng đất.
Mặc dù vậy, BLDS năm 2015 có quy định về hợp đồng cho mượn tài sản (Điều 494 – 499). Và, trên cơ sở nguyên tắc tự do hợp đồng và nguyên tắc tự do về dân sự (khoản 2, khoản 3 Điều 3 BLDS năm 2015), pháp luật dân sự Việt Nam hiện hành cũng không cấm việc cho mượn quyền sử dụng đất. Việc cho mượn quyền sử dụng đất có thể được xác lập thông qua giao dịch dân sự, hoặc hợp đồng. Hợp đồng này của các bên có thể là hợp đồng bằng lời nói, bằng văn bản hoặc bằng hành vi cụ thể.
Hợp đồng bằng lời nói: là những hợp đồng được giao kết dưới hình thức ngôn ngữ nói, bằng lời hay còn gọi là hợp đồng miệng. Theo đó, các bên giao kết hợp đồng trao đổi với nhau bằng lời nói trực tiếp hoặc thông qua điện thoại, điện đàm, gửi thông điệp điện tử bằng âm thanh (tiếng nói)…để diễn đạt tư tưởng và ý muốn của mình trong việc xác lập, giao kết hợp đồng. Trừ những loại hợp đồng pháp luật qui định hình thức bắt buộc, các hợp đồng đều có thể được lập bằng lời nói. Do việc giao 9 kết hợp đồng bằng lời nói có ưu điểm là cách thức giao kết đơn giản, gọn nhẹ, nhanh chóng và ít tốn kém nên được sử dụng phổ biến trong giao dịch dân sự, nhưng ít được sử dụng trong giao dịch thương mại.
Cũng vì sự tiện lợi của cách giao kết này mà trên thực tế, có nhiều hợp đồng đáng lẽ phải được lập bằng văn bản hoặc bằng văn bản có công chứng hoặc chứng thực (chẳng hạn như hợp đồng mua bán nhà, hợp đồng thuê bất động sản), nhưng để giản tiện, các bên thường lập dưới hình thức lời nói, nên đã dẫn đến những tranh chấp rất khó giải quyết. Hợp đồng bằng văn bản: Văn bản là chữ viết trên một phương tiện chứa đựng cố định. Khác với hợp đồng bằng lời nói vốn không để lại bằng chứng “khẩu thuyết vô bằng”, thì hợp đồng bằng văn bản đảm bảo sự thể hiện rõ ràng ý chí các bên cũng như nội dung của từng điều khoản hợp đồng mà các bên muốn cam kết. Trong hình thức văn bản bao gồm 2 loại là: văn bản điện tử và văn bản truyền thống.
- Văn bản điện tử: là giao dịch dân sự thông qua phương tiện điện tử dưới hình thức thông điệp dữ liệu theo quy định của pháp luật về quy định về giao dịch điện tử. - Văn bản truyền thống: là hình thức ngôn ngữ viết, được trình bày trên một chất liệu hữu hình nhằm thể hiện một nội dung xác định mà người ta có thể đọc, lưu giữ và bảo bảo đảm được sự toàn vẹn nội dung đó. Trong văn bản truyền thống bao gồm: + “Giấy tay”, văn bản thường không có công chứng bao gồm văn khế, văn bản dưới dạng chứng nhận hợp đồng…và phiếu giữ xe, biên nhận… + Văn bản có công chứng, chứng thực. + Văn bản phải đăng kí, xin phép như: đăng kí hợp đồng, đăng kí quyền sỡ hữu, quyền sử dụng… Hợp đồng bằng hành vi cụ thể: Hành vi cụ thể là một hình thức thể hiện của hợp đồng hiểu theo nghĩa hẹp.
Bởi lẽ, việc tuyên bố ý chí bằng lời nói hay bằng chữ viết, suy cho cùng, cũng đều bằng hành vi của con người. Tuy vậy, hình thức hợp đồng bằng hành vi cụ thể được nói đến trong trường hợp này không phải được diễn đạt bằng lời nói hay chữ viết mà chỉ được thể hiện bằng một hành động thuần túy. Hình thức hợp đồng bằng hành vi cụ thể được thể hiện ra bên ngoài khá đa dạng. Hành vi cụ thể thường được sử dụng để xác lập các hợp đồng thông dụng, được thực hiện ngay, và trở thành thói quen phổ biến của lĩnh vực hoạt động liên quan, tại nơi giao dịch được xác lập, hoặc hành vi cụ thể cũng được sử dụng phổ biến trong các hoạt động dịch vụ dành cho số đông đại chúng mà bên cung cấp dịch vụ đã có qui chế hoạt động rõ ràng đã được công bố.
10 - Trong nhiều trường hợp, khi một bên biết rõ nội dung lời đề nghị giao kêt hợp đồng từ phía bên kia và thể hiện đồng ý xác lập hợp đồng bằng một hành vi cụ thể, đã chuyển tín hiệu đồng ý đến cho bên kia biết thì hành vi cụ thể đó cũng được coi như hình thức biểu hiện của hợp đồng. Đối với thỏa thuận mượn quyền sử dụng đất thì căn cứ theo Khoản 1 Điều 167 Luật đất đai năm 2013, người sử dụng đất có các quyền như sau: quyền chuyển đổi, chuyển nhượng, cho thuê, cho thuê lại, thừa kế, tặng cho, thế chấp, góp vốn quyền sử dụng đất. Như vậy, theo pháp luật đất đai hiện hành thì không có quy định về việc cho mượn quyền sử dụng đất. Quyền sử dụng đất là một loại tài sản của người được nhà nước giao cho, cho thuê thì có quyền sử dụng định đoạt tài sản này (trong phạm vi Nhà nước không cấm).
Do đó, việc cho mượn đất có thể hiểu là người sử dụng đất đang thực hiện quyền đối với tài sản của mình và phải tuân theo các quy định về hợp đồng mượn tài sản. Điều 494 BLDS năm 2015 quy định về hợp đồng mượn tài sản như sau: “Hợp đồng mượn tài sản là sự thỏa thuận giữa các bên, theo đó bên cho mượn giao tài sản cho bên mượn để sử dụng trong một thời hạn mà không phải trả tiền, bên mượn phải trả lại tài sản đó khi hết thời hạn mượn hoặc mục đích mượn đã đạt được.” Đối chiếu quy định trên, bên cho mượn tài sản và bên mượn tài sản thỏa thuận với nhau về thời hạn mượn. Khi hết thời hạn mượn hoặc mục đích mượn quyền sử dụng đất đã đạt được thì người mượn phải trả lại cho người cho mượn. Bên cho mượn có quyền đòi lại tài sản trong các trường hợp: + Ngay sau khi bên mượn đạt được mục đích nếu không có thỏa thuận về thời hạn mượn; nếu bên cho mượn có nhu cầu đột xuất và cấp bách cần sử dụng tài sản cho mượn thì được đòi lại tài sản đó mặc dù bên mượn chưa đạt được mục đích, nhưng phải báo trước một thời gian hợp lý.
+ Khi bên mượn sử dụng không đúng mục đích, công dụng, không đúng cách thức đã thỏa thuận hoặc cho người khác mượn lại mà không có sự đồng ý của bên cho mượn. Như vậy, nếu hợp đồng mượn quyền sử dụng đất giữa bên mượn và bên cho mượn không quy định về thời hạn mượn thì ngay khi bên mượn đạt được mục đích, bên cho mượn có quyền lấy lại tài sản. Nếu có thỏa thuận về thời hạn nhưng bên cho mượn có nhu cầu đột xuất và cấp bách cần sử dụng tài sản cho mượn thì được đòi lại tài sản kể cả khi bên mượn chưa đạt được mục đích, nhưng phải báo trước 11 cho bên mượn một thời gian hợp lý, đồng thời bên cho mượn phải có các giấy tờ kèm theo hoặc bằng chứng chứng minh việc đòi lại quyền sử dụng đất là do có nhu cầu đột xuất và cấp bách cần sử dụng quyền sử dụng đất. Ngoài ra, bên cho mượn còn có quyền đòi lại tài sản nếu bên mượn sử dụng không đúng mục đích, công dụng, không đúng cách thức đã thỏa thuận hoặc cho người khác mượn mà không có sự đồng ý của bên cho mượn.
Và Điều 502 BLDS năm 2015 quy định về hình thức thực hiện hợp đồng về quyền sử dụng đất như sau: “1. Hợp đồng về quyền sử dụng đất phải được lập thành văn bản theo hình thức phù hợp với quy định của Bộ luật này, pháp luật về đất đai và quy định khác của pháp luật có liên quan. Việc thực hiện hợp đồng về quyền sử dụng đất phải đúng trình tự, thủ tục theo quy định của pháp luật về đất đai và quy định khác của pháp luật có liên quan.” Khi các bên có hợp đồng hoặc giao dịch về việc cho mượn quyền sử dụng đất thì việc đòi lại quyền sử dụng đất trong trường hợp này sẽ có thể phát sinh các tình huống như sau: Thứ nhất, hợp đồng, giao dịch về mượn quyền sử dụng đất là không hợp pháp. Nghĩa là thỏa thuận đó không đảm các quy định về hình thức, nội dung của quy định pháp luật dân sự tại các Điều 494 và Điều 502 của BLDS.
Căn cứ vào tính chất mức độ các vi phạm về hình thức và nội dung của hợp đồng, để khi giải quyết tranh chấp đòi lại quyền sử dụng đất cho mượn, Tòa án sẽ tuyên hợp đồng mượn tài sản là vô hiệu một phần hoặc vô hiệu toàn bộ và xử lý hậu quả pháp lý tiếp theo. Thứ hai, hợp đồng, giao dịch về mượn quyền sử dụng đất là hợp pháp.