Quyền của người lao động theo hiệp định đối tác toàn diện và tiến bộ xuyên thái bình dương và hiệp định thương mại tự do việt nam eu luận văn thạc sỹ luật học

Tài liệu nghiên cứu Quyền của người lao động theo hiệp định đối tác toàn diện và tiến bộ xuyên thái bình dương và hiệp, tổng hợp lý thuyết và thực hành, cung cấp kiến thức chuyên

Trường đại học

Đại học Quốc gia Hà Nội

Chuyên ngành

Luật học

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận văn

2020

108
0
0

Phí lưu trữ

35 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CAM ĐOAN

LỜI CẢM ƠN

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT

1. CHƯƠNG 1: TÔNG QUAN VỀ QUYỀN CỦA NGƯỜI LAO ĐỘNG THEO HIỆP ĐỊNH ĐỐI TÁC TOÀN DIỆN VÀ TIẾN BỘ XUYÊN THÁI BÌNH DƯƠNG VÀ HIỆP ĐỊNH THƯƠNG MẠI TỰ DO VIỆT NAM - EU

1.1. Khái quát về Hiệp định Đối tác Toàn diện và Tiến bộ xuyên Thái Bình Dương và Hiệp định Thương mại tự do Việt Nam - EU

2. CHƯƠNG 2: QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT VIỆT NAM VỀ QUYỀN CỦA NGƯỜI LAO ĐỘNG VÀ THỰC TIỄN THỰC THI CÁC CAM KẾT VỀ LAO ĐỘNG TRONG HIỆP ĐỊNH CPTPP VÀ HIỆP ĐỊNH EVFTA

3. CHƯƠNG 3: ĐỀ XUẤT GIẢI PHÁP NHẰM GÓP PHẦN BẢO ĐẢM THỰC HIỆN CÁC CAM KẾT VỀ LAO ĐỘNG TRONG HIỆP ĐỊNH CPTPP VÀ HIỆP ĐỊNH EVFTA TẠI VIỆT NAM

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

Tóm tắt

I. Tổng quan về Quyền Người Lao Động Theo Hiệp Định CPTPP EVFTA

Hiệp định CPTPP và EVFTA không chỉ là những thỏa thuận thương mại mà còn chứa đựng các cam kết quan trọng về quyền lợi của người lao động. Những cam kết này nhằm bảo vệ quyền lợi của người lao động trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế. Việc thực thi các cam kết này sẽ tạo ra một môi trường làm việc công bằng và bền vững hơn cho người lao động tại Việt Nam.

1.1. Hiệp định CPTPP và EVFTA Khái quát và Ý nghĩa

Hiệp định CPTPP và EVFTA là hai hiệp định thương mại tự do thế hệ mới, có tác động lớn đến nền kinh tế Việt Nam. CPTPP được ký kết vào năm 2018 và có hiệu lực từ năm 2019, trong khi EVFTA có hiệu lực từ năm 2020. Cả hai hiệp định này đều yêu cầu các quốc gia thành viên phải tuân thủ các tiêu chuẩn lao động quốc tế cơ bản.

1.2. Mối quan hệ giữa Hiệp định và Quyền Người Lao Động

Cả CPTPP và EVFTA đều nhấn mạnh tầm quan trọng của việc bảo vệ quyền lợi của người lao động. Điều này bao gồm việc xóa bỏ lao động cưỡng bức, lao động trẻ em và phân biệt đối xử trong lao động. Các cam kết này không chỉ giúp cải thiện điều kiện làm việc mà còn nâng cao vị thế của người lao động trong xã hội.

II. Thách thức trong việc Bảo Vệ Quyền Người Lao Động Theo Hiệp Định CPTPP EVFTA

Mặc dù có nhiều cơ hội từ việc tham gia CPTPP và EVFTA, nhưng Việt Nam cũng phải đối mặt với nhiều thách thức trong việc thực thi các cam kết về quyền lợi của người lao động. Những thách thức này bao gồm sự thiếu hụt về nhận thức, cơ sở hạ tầng pháp lý và sự phối hợp giữa các cơ quan chức năng.

2.1. Thiếu hụt Nhận thức về Quyền Lao Động

Nhiều người lao động vẫn chưa hiểu rõ về quyền lợi của mình theo các hiệp định này. Việc thiếu thông tin và giáo dục về quyền lao động dẫn đến việc không thể thực thi các quyền này một cách hiệu quả.

2.2. Cơ sở Hạ tầng Pháp lý Chưa Hoàn Thiện

Hệ thống pháp luật hiện tại vẫn còn nhiều bất cập, chưa đáp ứng được yêu cầu của các cam kết quốc tế. Điều này gây khó khăn trong việc thực thi quyền lợi của người lao động và bảo vệ họ khỏi các hành vi vi phạm.

III. Giải pháp Bảo Đảm Quyền Người Lao Động Theo Hiệp Định CPTPP EVFTA

Để bảo đảm quyền lợi của người lao động, cần có những giải pháp đồng bộ từ phía nhà nước, doanh nghiệp và các tổ chức xã hội. Các giải pháp này bao gồm việc nâng cao nhận thức, hoàn thiện hệ thống pháp luật và tăng cường giám sát thực thi.

3.1. Nâng cao Nhận thức và Giáo dục về Quyền Lao Động

Cần tổ chức các chương trình giáo dục và tuyên truyền về quyền lợi của người lao động theo các hiệp định CPTPP và EVFTA. Điều này sẽ giúp người lao động hiểu rõ hơn về quyền lợi của mình và cách thức bảo vệ chúng.

3.2. Hoàn thiện Hệ thống Pháp luật về Lao Động

Cần rà soát và sửa đổi các quy định pháp luật hiện hành để đảm bảo tính tương thích với các cam kết quốc tế. Việc này sẽ tạo ra một khung pháp lý vững chắc hơn cho việc bảo vệ quyền lợi của người lao động.

IV. Ứng dụng Thực tiễn và Kết quả Nghiên cứu về Quyền Người Lao Động

Việc thực thi các cam kết trong CPTPP và EVFTA đã mang lại nhiều kết quả tích cực cho quyền lợi của người lao động tại Việt Nam. Tuy nhiên, cần tiếp tục theo dõi và đánh giá để đảm bảo các quyền này được thực thi một cách hiệu quả.

4.1. Kết quả Thực thi Cam kết về Quyền Lao Động

Các cam kết trong CPTPP và EVFTA đã giúp cải thiện điều kiện làm việc và nâng cao quyền lợi cho người lao động. Nhiều doanh nghiệp đã bắt đầu áp dụng các tiêu chuẩn lao động quốc tế trong hoạt động của mình.

4.2. Đánh giá Tác động của Hiệp Định đến Quyền Lao Động

Cần có các nghiên cứu đánh giá tác động của CPTPP và EVFTA đến quyền lợi của người lao động. Những đánh giá này sẽ giúp nhận diện các vấn đề còn tồn tại và đề xuất các giải pháp khắc phục.

V. Kết luận và Tương lai của Quyền Người Lao Động Theo Hiệp Định CPTPP EVFTA

Việc bảo vệ quyền lợi của người lao động theo các hiệp định CPTPP và EVFTA là một nhiệm vụ quan trọng và cần thiết. Tương lai của quyền lao động tại Việt Nam phụ thuộc vào sự cam kết và nỗ lực của tất cả các bên liên quan.

5.1. Tương lai của Quyền Lao Động tại Việt Nam

Với sự phát triển của nền kinh tế và hội nhập quốc tế, quyền lợi của người lao động sẽ ngày càng được chú trọng hơn. Tuy nhiên, cần có sự đồng lòng từ chính phủ, doanh nghiệp và xã hội để thực hiện điều này.

5.2. Cam kết của Việt Nam trong Bảo vệ Quyền Lao Động

Việt Nam cần tiếp tục cam kết thực hiện các tiêu chuẩn lao động quốc tế và bảo vệ quyền lợi của người lao động. Điều này không chỉ giúp nâng cao chất lượng cuộc sống mà còn tạo ra một môi trường làm việc bền vững.

16/08/2025
Quyền của người lao động theo hiệp định đối tác toàn diện và tiến bộ xuyên thái bình dương và hiệp định thương mại tự do việt nam eu luận văn thạc sỹ luật học

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1. TÔNG QUAN VỀ QUYỀN CỦA NGƯỜI LAO ĐỘNG THEO HIỆP ĐỊNH ĐÓI TÁC TOÀN DIỆN VÀ TIẾN BỘ XUYÊN THÁI BÌNH DỨONG VÀ HIỆP ĐỊNH THƯƠNG MẠI Tự DO VIỆT NAM - EU 1. Khái quát về Hiệp định Đối tác Toàn diện và Tiến bộ xuyên Thái Bình Dương và Hiệp định Thưong mại tự do Việt Nam - EU 1. Hiệp đinh Đối tác Toàn diện và Tiến bộ xuyên Thái Bình Dương Hiệp định Đối tác Toàn diện và Tiến bộ xuyên Thái Bình Dương (CPTPP) là một Hiệp định thương mại tự do (FTA) thế hệ mới, có thành viên là Việt Nam và 10 nước ở khu vực Thái Bình Dương gồm: ỏt-xtrây-li-a, Bru- nây, Ca-na-đa, Chi-lê, Nhật Bản, Ma-lai-xi-a, Mê-hi-cô, Niu Di-lân, Pê-ru, Xinh-ga-po.

Vào năm 2002, bốn nước gồm: Bru-nây, Chi-lê, Niu Di-lân, Xinh-ga- po đã phát động thành lập Hiệp định Đối tác kinh tế chiến lược xuyên Thái Bình Dương (Hiệp định P4). Do quy mô của 04 nền kinh tế này đều nhỏ, nên từ năm 2002 đến năm 2008, Hiệp định P4 gần như không có gì nổi bật cũng như bị lãng quên bởi các nền kinh tế lớn trong khu vực. Ngày 22/9/2008, Hoa Kỳ bất ngờ tuyên bố tham gia vào Hiệp định P4 kèm theo đề nghị bỏ qua khuôn khố cũ của Hiệp định P4 và các bên sẽ đàm phán một Hiệp định hoàn toàn mới, với tên gọi là Hiệp định Đối tác xuyên Thái Binh Dương - Hiệp định TPP. Do đó, ngày nay, Hiệp định TPP vẫn luôn được xem là tiền thân của Hiệp định CPTPP.

Trải qua hơn 30 phiên đàm phán ở cấp kỹ thuật và hơn 10 cuộc đàm phán ở cấp Bộ trưởng, 12 nước thành viên TPP (gồm: Bru-nây, Chi-lê, Niu Di-lân, Xinh-ga-po, Hoa kỳ, Ốt-xtrây-lia, Pê-ru, Ma-lai-xi-a, Mê-hi-cô, Ca- na-đa, Nhật Bản và Việt Nam) đã kết thúc cơ bản toàn bộ các nội dung đàm 9 phán tại Hội nghị Bộ trưởng tô chức tại At-lan-ta, Hoa Kỳ vào tháng 10/2015. Đến ngày 04/02/2016, Bộ trưởng của 12 nước đã tham dự Lễ ký để xác thực lời văn Hiệp định TPP tại Niu Di-lân và dự kiến hiệu lực thực thi cho Hiệp định này từ năm 2018 [50]. Hiệp định TPP được nhận định là chiến lược kinh tế quan trọng của 12 nước thành viên. Các nguyên tắc và tiêu chuẩn cao của Hiệp định này sẽ góp phần thúc đẩy hội nhập kinh tế trong khu vực Thái Bình Dương, đóng góp tích cực vào việc hoàn thiện thể chế chính sách, pháp luật của các quốc gia hướng tới mục tiêu cao nhất là tăng trưởng kinh tế của các nước thành viên; tạo thêm cơ hội việc làm cho người lao động; xây dựng một sân chơi tự do thương mại mới cho Châu Á - Thái Bình Dương.

Tuy nhiên, ngày 30/01/2017, sự kiện Tổng thống Donald Trump ký sắc lệnh rút Hoa Kỳ khỏi Hiệp định TPP khiến cho Hiệp định này đứng trước nguy cơ đổ vỡ. Với mong muốn hiện thực hóa sân chơi tự do thương mại mới ở khu vực, Nhật Bản - thành viên lớn thứ hai - là quốc gia tiên phong tái triển khai Hiệp định TPP mà không có Hoa Kỳ. Nồ lực của Nhật Bản đã tạo ra kỳ vọng cho 10 quốc gia thành viên còn lại về tương lai của TPP (10 nước thành viên còn lại là Bru-nây, Chi-lê, Niu Di-lân, Xinh-ga-po, Ốt-xtrây-lia, Pê-ru, Ma-lai-xi-a, Mê-hi-cô, Ca-na-đa và Việt Nam). Tháng 5/2017, tại cuộc họp bên lề Hội nghị Bộ trưởng phụ trách thương mại (MRT) của Diễn đàn Hợp tác kinh tế châu Á - Thái Bình Dương (APEC), các Bộ trưởng, Thứ trưởng (thay mặt Bộ trưởng) của 09 nước (là Nhật Bản, Bru-nây, Chi-lê, Xinh-ga-po, Ốt-xtrây-lia, Pê-ru, Ma-lai-xi-a, Ca- na-đa và Việt Nam) đã đồng quyết về việc phải hiện thực hóa những lợi ích của Hiệp định TPP và nhất trí sẽ tiến hành nghiên cứu các kịch bản phù hợp về một Hiệp định TPP-11 không Hoa Kỳ.

10 Ngày 10/11/2017, tại cuộc họp câp Bộ trưởng tô chức bên lê Tuân lê Cấp cao APEC tại Đà Nang, 11 nước thành viên Hiệp định TPP đã ra Tuyên bố chung thống nhất đổi tên TPP thành CPTPP và tiếp tục ký kết để Hiệp định CPTPP có hiệu lực mà không có Hoa kỳ. Toàn bộ nội dung đàm phán còn lại trong CPTPP được các nước hoàn thành vào cuối tháng 01/2018 tại Tô-ki-ô, Nhật Bàn. Đến ngày 08 tháng 3 cùng năm đó, các Bộ trưởng của 11 nước tham gia Hiệp định CPTPP đã chính thức tham gia Lễ ký Hiệp định này tại thành phố San-ti-a-gô, Chi-lê. Sau Lễ ký, 07 nước thành viên đầu tiên đã thực hiện phê chuẩn Hiệp định, gồm Mê-hi-cô, Nhật Bản, Xinh-ga-po, Niu Di-lân, Ca-na-đa, Ốt-xtrây- lia và Việt Nam.

Trong đó, Hiệp định CPTPP đã có hiệu lực thực thi với 06 nước đầu tiên hoàn tất thủ tục phê chuẩn vào ngày 30/12/2018. Riêng với Việt Nam, Hiệp định CPTPP có hiệu lực kể từ ngày 14/01/2019 [57], Mặc dù xét trên bình diện về quy mô thị trường, sức mạnh kinh tế lẫn kim ngạch thương mại đa phương, Hiệp định CPTPP không thể bằng Hiệp định TPP vì thiếu đi nền kinh tế lớn nhất toàn cầu là Hoa Kỳ nhưng CPTPP lại được đánh giá là toàn diện và khả thi hơn TPP. về cơ bản, Hiệp định CPTPP gần như giữ nguyên nội dung của Hiệp định TPP, đặc biệt là toàn bộ các cam kết về mở cửa thị trường trong TPP. Hiệp định CPTPP vẫn duy trì nền tảng là các nguyên tắc và tiêu chuẩn cao của TPP.

Tuy nhiên, để tăng tính khả thi, CPTPP đã tạm gác lại những nội dung còn có ý kiến khác nhau và tạm hoãn những điều kiện cao có thể gây xung đột lợi ích giữa các nước thành viên hay những điều khoản khó khăn khi thực thi. Hiệp định CPTPP được kết cấu gồm 07 Điều và 01 Phụ lục, thể hiện 02 mục đích chính: 11 Thứ nhât, quy định vê môi quan hệ giữa Hiệp định CPTPP với Hiệp định tiền thân TPP. Thứ hai, triển khai các nội dung có liên quan đến đến hiệu lực, rút khỏi hay gia nhập Hiệp định CPTPP. Việc Hoa Kỳ rút khỏi Hiệp định TPP phần nào đã giúp các nước thành viên còn lại giải tỏa được sức ép từ những điều khoản khó khăn của TPP.

Tuy nhiên, vì các cam kết trong TPP đã toàn diện nên 11 nước thành viên Hiệp định CPTPP không sửa đổi hay húy bỏ dù cho đó là những điều khoản khó khăn khi thực thi mà thay vào đó đã thống nhất sẽ tạm hoãn một số nhóm nghĩa vụ để bảo đảm sự cân bằng về quyền lợi và nghĩa vụ cho tất cả 11 nước thành viên. Nhóm nghĩa vụ được tạm hoãn này gồm 20 nhóm, phân bồ tại nhiều chương của Hiệp định CPTPP: * Chương Sở hữu trí tuệ: 11 nghĩa vụ. * Chương Mua sắm của Chính phủ: 2 nghĩa vụ. * Các Chương là Quản lý hải quan và Tạo thuận lợi Thương mại, Đầu tư, Thương mại dịch vụ xuyên biên giới, Dịch vụ Tài chính, Viễn thông, Môi trường, Minh bạch hóa và Chống tham nhũng: 7 nghĩa vụ [47].

Các nội dung liên quan đến cam kết lao động cũng như bảo vệ quyền của người lao động được khẳng định tại Chương 19 về lao động của Hiệp định CPTPP viện dẫn theo Tuyên bố năm 1998 của ILO về các nguyên tắc và quyền cơ bàn trong lao động [1], Chương này cũng đưa ra mối liên hệ giữa việc thực hiện các tiêu chuẩn lao động quốc tế cơ bản của ILO với các điều kiện thương mại và các biện pháp trừng phạt có thể áp dụng. 12 Đôi với Việt Nam, việc tham gia Hiệp định CPTPP là một quá trình dài với với nhiều khó khăn, thách thức, nhưng kết quả đạt được, về cơ bản, đã bão đảm được các lợi ích cốt lõi của đất nước cũng như dành được nhiều ưu đãi thương mại và các quyền lợi khác cho Việt Nam. Trong khoảng thời gian kể từ thời điểm Bộ Chính trị đồng ý chủ trương tham gia đàm phán Hiệp định TPP cho đến khi Quốc hội quyết nghị phê chuẩn gia nhập Hiệp định CPTPP là một trường những cuộc đàm phán và ký kết, thậm chí có những giai đoạn tưởng chừng như đã phải dừng tham gia. Tuy nhiên, Việt Nam đã bước vào quá trình đấy bằng sự chuẩn bị tích cực, chủ động và bám sát vào những định hướng, chủ trương, quan điểm chỉ đạo của Bộ Chính trị, sự điều hành của Chính phủ và các cấp có thẩm quyền.

Hiệp • O mại Thương • tự • Nam - EU • do Việt EU là một liên minh gồm 27 quốc gia châu Âu (Vương quốc Anh đã ra khỏi EU) và cũng là thị trường có dung lượng lớn với sự thống nhất trong đa dạng. Việc thâm nhập thành công thị trường EU đồng nghĩa với việc Việt Nam có thêm cơ hội mở rộng quan hệ hợp tác với cùng lúc 27 nền kinh tế lớn ở châu Âu. Hiệp định Thương mại tự do Việt Nam - EU (Hiệp định EVFTA) là 01 FTA thế hệ mới đầu tiên, được khởi động và kết thúc đàm phán trong bối cảnh quan hệ song phương giữa Việt Nam - EU ngày càng phát triền tốt đẹp. Hiệp định EVFTA được đánh giá là một điều ước quốc tế toàn diện, chất lượng và bảo đảm cân bằng lợi ích giữa 02 bên khi có đã tính đến thực tế chênh lệch về trinh độ phát triển giữa Việt Nam và EU.

Tháng 10/2010, Hiệp định EVFTA chính thức được Thủ tướng Chính phủ Việt Nam và Chủ tịch EU đồng ý khởi động đàm phán. Phiên đàm phán đầu tiên diễn ra tại Hà Nội, từ ngày 08 - 12/10/2012, với sự tham gia của 60 chuyên gia đến từ Việt Nam và EU. Tại phiên đàm 13 phán đâu tiên, 02 bên đã thông nhât được những nội dung cơ bản vê khung Hiệp định nhằm làm rõ những yêu cầu, mong muốn của mồi bên về biểu thuế, hàng rào phi thuế quan cũng như các cam kết đối với các nội dung liên quan đến thương mại khác như vấn đề mua sắm, các vấn đề chính sách, cạnh tranh, dịch vụ và phát triển bền vững. Đồng thời, cũng trong phiên đàm phán này, cả 02 bên đã nhất trí về lộ trình cho những phiên đàm phán và các bước tiếp theo [59], Sau gần 3 năm đàm phán, với 14 phiên chính thức và nhiều phiên giữa kỳ ở cấp Bộ trưởng, cấp Trưởng đoàn và các nhóm kỹ thuật, Việt Nam và EU đã đạt được thỏa thuận nguyên tắc về toàn bộ các nội dung cơ bản của Hiệp định và công bố kết thúc đàm phán, bắt đầu rà soát pháp lý để chuẩn bị cho việc ký kết Hiệp định vào tháng 12/2015 [49].

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ