phần mở đầu, phần nội dung và kết luận lời cam đoan, mục lục, danh mục tài liệu tham khảo và phần phụ lục, luận văn gồm có 02 chƣơng nhƣ sau: Chƣơng 1. Lý luận chung và quy định pháp luật về quyền kháng nghị của Viện kiểm sát nhân dân trong thi hành án dân sự. Thực tiễn áp dụng quy định pháp luật về quyền kháng nghị của Viện kiểm sát nhân dân trong thi hành án dân sự và kiến nghị hoàn thiện. LÝ LUẬN CHUNG VÀ QUY ĐỊNH PHÁP LUẬT VỀ QUYỀN KHÁNG NGHỊ CỦA VIỆN KIỂM SÁT NHÂN DÂN TRONG THI HÀNH ÁN DÂN SỰ 1.
Lý luận chung về quyền kháng nghị của Viện kiểm sát nhân dân trong thi hành án dân sự 1. Khái niệm quyền kháng nghị của Viện kiểm sát nhân dân trong thi hành án dân sự 1. Thi hành án dân sự Quá trình giải quyết vụ việc dân sự kết thúc bằng một bản án, quyết định không có nghĩa chân lý đã đƣợc thực thi và cũng không có nghĩa là quyền lợi ích hợp pháp của đƣơng sự đã đƣợc đảm bảo, để quyền và lợi ích của đƣơng sự đƣợc đảm bảo trƣớc hết các bên đã thực hiện đƣợc những gì mà bản án, quyết định của Tòa án đã tuyên. Thực tế đã chứng minh, chỉ khi bản án, quyết định của Tòa án đƣợc thi hành trên thực tế thì mới bảo đảm đƣợc các quyền, lợi ích hợp pháp của Nhà nƣớc, tổ chức và công dân bị xâm phạm.
Để bản án, quyết định đƣợc thi hành trên thực tế, không phải trƣờng hợp nào cũng có thể trông chờ vào sự tự nguyện của các đƣơng sự mà phải sử dụng sức mạnh của Nhà nƣớc trong việc đôn đốc, cƣỡng chế thông qua các cơ quan tổ chức đƣợc giao cho thực hiện nhiệm vụ thi hành án. Theo từ điển luật học định nghĩa thi hành án là “Giai đoạn kết thúc trình tự tố tụng, là khâu cuối cùng kết thúc một vụ án được xét xử nhằm làm cho các phán quyết của Tòa án nhất định có hiệu lực pháp luật. Vì vậy, bản án sau khi có hiệu lực thi hành phải được thi hành nghiêm chỉnh”2. Xuất phát từ nguyên tắc hiến định tại Điều 106 Hiến pháp năm 2013: “Bản án, quyết định của Tòa án nhân dân có hiệu lực pháp luật phải được cơ quan, tổ chức, cá nhân tôn trọng; cơ quan, tổ chức, cá nhân hữu quan phải nghiêm chỉnh chấp hành”, vậy nên hoạt động thi hành án nói chung và THADS nói riêng có ý nghĩa rất quan trọng đối với toàn bộ quá trình giải quyết vụ án bởi vì bản án, quyết định chỉ có ý nghĩa khi nó đƣợc thi hành trên thực tiễn.
Từ đó, quyền và lợi ích hợp pháp của các đƣơng sự vì thế cũng đƣợc bảo vệ trọn vẹn, đầy đủ hơn. Hoạt động THADS do các cơ quan, tổ chức, ngƣời có thẩm quyền thực hiện theo những trình tự, thủ tục do pháp luật quy định để thi hành các phán quyết trong các bản án, quyết định. THADS có ý nghĩa to lớn trong việc bảo vệ quyền lợi ích hợp pháp của các 2 Viện khoa học pháp lý (1999), Từ điển Luật học, Nxb. Từ điển Bách khoa, Hà Nội, tr.
9 đƣơng sự đồng thời có tác dụng củng cố kết quả xét xử cũng nhƣ hiệu quả của các bản án, quyết định góp phần bảo đảm tính nghiêm minh của pháp luật và pháp chế xã hội chủ nghĩa. Theo pháp luật nƣớc Cộng Hòa Nhân dân Trung Hoa giải thích thi hành án là “Hoạt động xét xử do Tòa án nhân dân thực hiện phù hợp với các thủ tục pháp lý trong đó nó sử dụng sức mạnh cưỡng chế của nhà nước cưỡng chế người có nghĩa vụ thực hiện nhiệm vụ đó và nguyên nhân một văn bản có hiệu lực pháp lý để đưa vào thực hiện. Tòa án nhân dân thực hiện quyền thi hành một cách độc lập phù hợp với quy định của pháp luật và không bị can thiệp của bất kỳ cơ quan hành chính, nhóm xã hội hoặc cá nhân nào”3. Từ quy định trên cho thấy quy định của pháp luật nƣớc Cộng Hòa Nhân dân Trung Hoa về thi hành án rất rộng, trong đó chú trọng nhắc tới thi hành án là sử dụng sức mạnh cƣỡng chế của nhà nƣớc cƣỡng chế ngƣời có nghĩa vụ thực hiện nhiệm vụ đó, chúng ta ngầm hiểu công cụ thực hiện thi hành án là cƣỡng chế, sử dụng công cụ cƣỡng chế nhƣ một công cụ hữu hiệu cho hoạt động thi hành án so với pháp luật nƣớc ta quy định về thi hành án chỉ đơn giản là hoạt động của CQTHADS, ngƣời đƣợc thi hành án, ngƣời phải thi hành án và các chủ thể có thẩm quyền trong hoạt động thi hành án thi hành bản án, quyết định của tòa án.
Nhƣ vậy, quy định thi hành án của nƣớc ta mang tính tự nguyện là đầu tiên, ghi nhận việc tự nguyện của các bên, sau khi hết tự nguyện thì mới cƣỡng chế nhƣng cƣỡng chế không đƣợc xem là nhƣ một công cụ hữu hiệu trong hoạt động thi hành án. Hiện nay, trong khoa học pháp lý một số tác giả nghiên cứu cho rằng: “Hoạt động của Cơ quan Thi hành án dân sự có thẩm quyền trong việc thực hiện các thủ tục do pháp luật quy định để thi hành những phán quyết của Tòa án và các THADS là cơ quan có thẩm quyền khác nhằm bảo đảm lợi ích của Nhà nƣớc, quyền lợi ích hợp pháp của cơ quan, tổ chức và công dân”, “bản chất của hoạt động thi hành án là hành chính – tƣ pháp”4. Ngoài ra, có một số quan điểm lại cho rằng THADS là “Hoạt động tƣ pháp của Nhà nƣớc nhằm đảm bảo cho bản án, quyết định dân sự, hình phạt tiền, tịch thu 3 Xem link tại: [https://heinonline.org/HOL/Page?handle=hein.journals/colas10&collection=journals&id=105&startid=&end id=138] (Truy cập vào ngày 03/5/2022). 4 Đỗ Văn Minh (2016), Hoạt động của Viện kiểm sát nhân dân trong Thi hành án dân sự, Luận văn Thạc sỹ luật học, Trƣờng Đại học Luật Thành phố Hồ Chí Minh, tr.
10 tài sản, truy thu tiền, tài sản thu lợi bất chính, xử lý vật chứng, tài sản, án phí và quyết định dân sự trong bản án, quyết định xử lý vụ việc cạnh tranh có liên quan đến tài sản của các bên phải thi hành án của Hội đồng xử lý vụ việc cạnh tranh và quyết định của Trọng tài thƣơng mại đƣợc thi hành theo đúng quy định của pháp luật”5. Mỗi quan điểm trên đều có những lập luận và cơ sở khoa học riêng. Tuy nhiên, tác giả đồng tình với quan điểm thứ nhất cho rằng THADS là hoạt động hành chính – tƣ pháp bởi vì hoạt động thi hành án có tính chất đặc thù vừa có tính chất của hoạt động hành chính, vừa có tính chất của hoạt động tƣ pháp. Bởi lẽ, thi hành án là một hoạt động diễn ra sau quá trình xét xử của Tòa án.
Trong quá trình THADS, cơ quan thi hành án tác động tới đối tƣợng phải thi hành án bằng giáo dục tự giác thi hành hoặc áp dụng biện pháp cƣỡng chế buộc họ phải thực hiện nghĩa vụ đã đƣợc xác định trong bản án, quyết định của Tòa án, quyết định khác theo quy định của pháp luật. Bản chất của thi hành án là dạng hoạt động chấp hành nhƣng là chấp hành phán quyết của cơ quan xét xử với các cách thức và biện pháp khác nhau nhằm buộc ngƣời có nghĩa vụ đƣợc xác định trong bản án, quyết định của Tòa án phải thực hiện đúng các nghĩa vụ của mình. Mặt khác, thi hành án cũng mang tính hành chính thể hiện ở cơ sở của hoạt động thi hành án là những bản án, quyết định của Tòa án; các cơ quan tham gia vào quá trình thi hành án chủ yếu là cơ quan tƣ pháp. THADS là giai đoạn kế tiếp sau giai đoạn xét xử, có mối quan hệ mật thiết, đan xen với các giai đoạn tố tụng trƣớc đó, quá trình THADS nhằm khôi phục lại tình trạng ban đầu về quyền và nghĩa vụ của các chủ thể và mục đích của hoạt động THADS là đảm bảo cho nội dung dân sự của các bản án, quyết định của Tòa án đã đƣợc thực thi trên thực tế.
Nhƣ vậy, THADS vẫn là một khái niệm chƣa đƣợc thống nhất trong giới chuyên gia pháp lý. Theo tác giả, “Thi hành án dân sự là hoạt động của Cơ quan Thi hành án dân sự, người được thi hành án, người phải thi hành án và các chủ thể khác để thi hành những phán quyết của Tòa án và các cơ quan có thẩm quyền khác nhằm bảo đảm lợi ích của Nhà nước, quyền lợi ích hợp pháp của cá nhân, cơ quan và tổ chức”. 5 Nguyễn Thị Quỳnh Phƣợng (2011), Tổ chức và hoạt động của cơ quan Thi hành án dân sự cấp tỉnh (từ thực tiễn Thành phố Hồ Chí Minh), Luận văn Thạc sỹ luật học, Trƣờng Đại học Luật Thành phố Hồ Chí Minh, tr. Viện kiểm sát nhân dân Khoản 1 Điều 107 Hiến pháp năm 2013 quy định: “Viện kiểm sát nhân dân thực hành quyền công tố, kiểm sát hoạt động tư pháp” và tại Điều 2 LTCVKSND năm 2014 cũng đã khẳng định lại một lần nữa: “Viện kiểm sát nhân dân thực hành quyền công tố, kiểm sát hoạt động tư pháp”.
Nhƣ vậy, khái quát chức năng, nhiệm vụ chính của VKSND bao gồm: (i) thực hành quyền công tố; và (ii) kiểm sát hoạt động tƣ pháp. Thứ nhất, đối với chức năng, nhiệm vụ “thực hành quyền công tố” LTCVKSND năm 2014 đã đƣa ra định nghĩa chính thức về thực hành quyền công tố tại khoản 1 Điều 3: “Thực hành quyền công tố là hoạt động của Viện kiểm sát nhân dân trong tố tụng hình sự để thực hiện việc buộc tội của Nhà nước đối với người phạm tội, được thực hiện ngay từ khi giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố và trong suốt quá trình khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử vụ án hình sự”. Với chức năng thực hành quyền công tố VKSND có trách nhiệm bảo đảm việc thu thập đầy đủ tài liệu chứng cứ để xác định tội phạm, ngƣời phạm tội và sử dụng tổng hợp các quyền năng pháp lý thuộc nội dung quyền công tố để truy cứu trách nhiệm hình sự đối với ngƣời phạm tội trong các giai đoạn điều tra, truy tố, xét xử. Nhƣ vậy, thực hành quyền công tố là thực hiện quyền buộc tội của Nhà nƣớc đối với ngƣời thực hiện tội phạm.