Chương 1 KHÁI QUÁT CHUNG VỀ QUYỀN NHÂN THÂN VÀ VỊ TRÍ QUYỀN KHAI SINH, KHAI TỬ TRONG HỆ THỐNG QUYỀN NHÂN THÂN 1. KHÁI NIỆM, ĐẶC ĐIỂM QUYỀN NHÂN THÂN 1. Khái niệm quyền nhân thân Quyền nhân thân là một quyền dân sự của cá nhân, liên quan mật thiết đến quyền con người. Tiếp cận quyền nhân thân không thể không tiếp cận đến quyền dân sự, quyền con người.
Con người là trung tâm của xã hội, là đối tượng hướng tới và cần được bảo vệ bằng nhiều thiết chế khác nhau, trong đó có thiết chế pháp luật. Dưới góc độ pháp lý, quyền con người là quyền của cá nhân trong một xã hội có Nhà nước và pháp luật, theo đó pháp luật ghi nhận và bảo đảm cho cá nhân có những lợi ích vật chất và tinh thần nhất định. Có thể khẳng định rằng con người với vị trí và tầm quan trọng đặc biệt luôn được các quốc gia tôn trọng và bảo vệ, đặc biệt trong giai đoạn hiện nay khi điều kiện kinh tế, chính trị… của thế giới có nhiều thay đổi thì quyền con người và vấn đề bảo vệ quyền con người đã và đang được nhiều quốc gia quan tâm như một vấn đề trọng tâm. Quyền con người được hiểu là quyền đối với những lợi ích của con người - với tư cách là chủ thể tham gia quan hệ xã hội, ví dụ như quyền dân sự, quyền chính trị, quyền kinh tế, xã hội, văn hóa… Sự ra đời của các công ước về quyền con người được coi như là một minh chứng cho tầm quan trọng và sự quan tâm, bảo vệ của mỗi quốc gia đối với quyền con người, điển hình là Công ước quốc tế 1966 của Liên hợp quốc về quyền dân sự, quyền chính trị.
Quyền nhân thân theo quy định tại Bộ luật Dân sự năm 2005 là một loại quyền dân sự. Các chủ thể khi tham gia vào quan hệ pháp luật dân sự có 12 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com các quyền dân sự và các nghĩa vụ dân sự. Quyền và nghĩa vụ dân sự này có thể do các bên thỏa thuận, trong một số trường hợp, pháp luật quy định cụ thể về quyền dân sự và nghĩa vụ dân sự mà các bên buộc phải thực hiện. Đảm bảo những lợi ích chính đáng của các chủ thể khi tham gia quan hệ pháp luật chính là đã bảo đảm quyền con người.
Hay nói một cách khác quyền dân sự được coi là một khái niệm được bao hàm trong nội dung của quyền con người. Quyền dân sự với tư cách là một quyền con người cũng đã được pháp luật quốc tế thừa nhận và bảo vệ. Nhà nước Việt Nam, bằng pháp luật cũng đã thể hiện quan điểm rõ ràng trong việc bảo vệ quyền dân sự. Qua các bản hiến pháp, cụ thể là Hiến pháp năm 1992 đã quy định rõ những quyền con người cơ bản nhất được thể hiện tại Chương V.
Quyền dân sự được định nghĩa là "khả năng xử sự được phép của chủ thể có quyền năng được nhà nước quy định hoặc công nhận khi tham gia vào quan hệ dân sự và bảo đảm cho các quyền đó được thực hiện" [22]. Quyền dân sự ở một khía cạnh nhất định chính là những lợi ích mà các chủ thể khi tham gia quan hệ dân sự mong muốn đạt được, đó có thể là những quyền lợi liên quan đến vật chất hoặc những lợi ích về tinh thần. Dựa vào những tiêu chí nhất định mà quyền dân sự được phân loại thành những loại quyền khác nhau. Có thể nói sự phân loại phổ biến nhất trong các hệ thống pháp luật dân sự trên thế giới là sự đối lập giữa quyền nhân thân và quyền tài sản.
Về khái niệm quyền nhân thân, trên thực tế có nhiều quan điểm khi đề cập tới khái niệm quyền nhân thân và cũng chưa có một định nghĩa thống nhất. Luận văn trên cơ sở phân tích những quan điểm nổi bật và đưa ra những nhận định của cá nhân. Theo công trình nghiên cứu khoa học cấp bộ của Tòa án nhân dân tối cao, trong đề tài: "Vai trò của Tòa án nhân dân trong việc bảo vệ quyền nhân thân của công dân theo quy định của Bộ luật Dân sự" khái niệm quyền nhân thân được xây dựng trên hai góc độ. Dưới góc độ chủ thể, quyền nhân thân về dân sự là quyền con người về dân sự gắn liền với mỗi cá nhân được thụ 13 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com hưởng với tư cách là thành viên của cộng đồng kể từ thời điểm người đó được sinh ra và bằng các quyền đó, mỗi cá nhân được khẳng định địa vị pháp lý của mình trong giao lưu dân sự, do đó quyền này không thể chuyển giao cho người khác, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.
Dưới góc độ khách thể, quyền nhân thân về dân sự của cá nhân được hiểu là chế định pháp luật bao gồm các quy định của pháp luật về các quyền dân sự gắn liền với mỗi cá nhân để bảo đảm địa vị pháp lý cho mọi cá nhân, là cơ sở pháp lý để cá nhân thực hiện các quyền con người về dân sự [30, tr. Theo đó, quyền nhân thân mà chúng ta đang tìm hiểu được hiểu là quyền con người trong lĩnh vực dân sự, quyền nhân thân này có từ khi mỗi cá nhân sinh ra, là quyền nhân thân để phân biệt các cá nhân với nhau và không thể chuyển giao. Từ điển Luật học của Viện Khoa học pháp lý, Bộ Tư pháp lại có cách định nghĩa khác về quyền nhân thân: Quyền nhân thân: Quyền dân sự gắn liền với mỗi cá nhân mà không thể chuyển giao cho người khác, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác. Quyền nhân thân bao gồm: quyền có họ tên; quyền xác định dân tộc; quyền của cá nhân đối với hình ảnh; quyền được bảo đảm an toàn về tính mạng, sức khỏe, thân thể; quyền được bảo vệ nhân phẩm, danh dự, uy tín; quyền đối với bí mật đời tư; quyền kết hôn, quyền ly hôn, quyền có quốc tịch; quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo; quyền tự do đi lại, cư trú; quyền lao động; quyền tự do sáng tạo, quyền tác giả đối với tác phẩm; quyền đối với các đối tượng sở hữu công nghiệp.
Khi quyền nhân thân của một người bị xâm phạm thì người đó có quyền: yêu cầu người vi phạm hoặc tòa án buộc người vi phạm chấm dứt hành vi vi phạm, xin lỗi, cải chính công khai; tự mình cải chính trên các phương tiện thông tin đại chúng; tự mình yêu cầu hoặc yêu cầu tòa án buộc người vi phạm bồi thường thiệt 14 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com hại vật chất hoặc tinh thần. Không ai được lạm dụng quyền nhân thân của mình xâm phạm đến lợi ích của Nhà nước, lợi ích công cộng, quyền, lợi ích hợp pháp của người khác [37, tr. Có thể thấy từ điển luật học này đã đưa ra khái niệm khá súc tích, quyền nhân thân được khẳng định là một loại quyền dân sự, gắn liền với mỗi cá nhân, các cá nhân không thể chuyển giao quyền nhân thân của mình cho người khác, trừ trường hợp pháp luật quy định. Nội dung khái niệm về quyền nhân thân trong cuốn từ điển này hoàn toàn trùng hợp với tư tưởng của Bộ luật Dân sự năm 2005.
Điều 24 Bộ luật Dân sự năm 2005 có quy định: "Quyền nhân thân được quy định trong bộ luật này là quyền dân sự gắn liền với mỗi cá nhân, không thể chuyển giao cho người khác, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác" [27]. Bên cạnh những quan điểm trên còn một số quan điểm của các nhà nghiên cứu luật học mà ngay sau đây xin được trích dẫn một số quan điểm tiêu biểu. Trong bài viết "Khái niệm và phân loại quyền nhân thân", Tạp chí Luật học, số 7/2009, TS Bùi Đăng Hiếu đã thể hiển quan điểm không đồng thuận với quy định tại Điều 24 Bộ luật Dân sự năm 2005 ở hai điểm: Thứ nhất, Điều 24 Bộ luật Dân sự năm 2005 định nghĩa rằng quyền nhân thân là quyền dân sự gắn với mỗi cá nhân, không thể chuyển giao trừ khi pháp luật có quy định là một khẳng định không thấu đáo, bởi lẽ trên thực tế có một số quyền dân sự thỏa mãn các đặc điểm trên đây nhưng không được xác định là quyền nhân thân. Tác giả bài viết đưa ra những dẫn chứng cụ thể như trong lĩnh vực hôn nhân gia đình, Điều 50 Luật Hôn nhân và gia đình có quy định rằng: "nghĩa vụ cấp dưỡng được thực hiện giữa cha, mẹ và con, giữa anh chị em với nhau, giữa ông bà nội, ông bà ngoại và cháu, giữa vợ và chồng theo quy định của luật này.
Nghĩa vụ cấp dưỡng không thể thay thế bằng nghĩa vụ khác và không thể chuyển giao cho người khác" [24], tương ứng với nghĩa vụ cấp dưỡng Luật Hôn nhân và gia đình cũng quy định quyền yêu cầu cấp dưỡng gắn với những chủ thể nhất định. Theo tác giả, quyền dân sự về cấp 15 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com dưỡng chính là một loại quyền tài sản. Quyền tài sản này rõ ràng gắn với một cá nhân cụ thể và không thể chuyển giao. Thứ hai, tác giả của bài viết này không đồng ý với quy định cho rằng quyền nhân thân gắn liền với mỗi cá nhân.
Trong các văn bản mà tác giả dẫn chứng có liên quan đến yếu tố pháp lý của pháp nhân - chủ thể trong quan hệ pháp luật dân sự như tại Điều 604 và Điều 611 Bộ luật Dân sự năm 2005 có đề cập đến "danh dự, uy tín của pháp nhân, chủ thể khác" hay tại Nghị quyết số 01/2004/NQ-HĐTP ngày 28/04/2004 và Nghị quyết số 03/2006/NQ-HĐTP ngày 08/07/2006 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao, đều nhắc đến thiệt hại do tổn thất về tinh thần của cá nhân¸và pháp nhân được bồi thường thiệt hại về tinh thần. Tác giả của bài viết cho rằng những quy định này đã khẳng định quyền nhân thân của pháp nhân được pháp luật bảo vệ, đồng nghĩa với việc cho rằng quyền nhân thân chỉ gắn với cá nhân như tại Điều 24 Bộ luật Dân sự là không chính xác. Từ những phân tích đó, TS. Bùi Đăng Hiếu cũng đã đưa ra quan điểm cá nhân khi xây dựng định nghĩa về quyền nhân thân: "Quyền nhân thân là quyền dân sự gắn với đời sống tinh thần của mỗi chủ thể, không định giá được bằng tiền và không thể chuyển giao cho chủ thể khác, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác" [9, tr.
Một quan điểm khác khi xây dựng khái niệm về quyền nhân thân: quan điểm của TS.