Luận Văn Thạc Sĩ Về Quyền Kết Hôn Của Người LGBT Dưới Góc Độ Quyền Con Người

Luận văn thạc sĩ nghiên cứu vnu ls kết hôn giữa những người lgbt dưới góc độ quyền con người, khảo sát thực trạng, phân tích nguyên nhân, đề xuất giải pháp cải thiện thực tiễn.

Trường đại học

Đại học quốc gia Hà Nội

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận văn thạc sĩ

2015

108
0
0

Phí lưu trữ

35 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CAM ĐOAN

MỞ ĐẦU

1. CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ CỘNG ĐỒNG NGƯỜI LGBT VÀ QUYỀN KẾT HÔN CỦA HỌ DƯỚI GÓC ĐỘ QUYỀN CON NGƯỜI

1.1. Đồng tính, song tính là các thiên hướng tính dục

1.2. Đồng tính và nhận thức của xã hội về người đồng tính

1.3. Song tính và nhận thức của xã hội

1.4. Người chuyển giới. Người liên giới tính

1.5. Những vấn đề cần giải quyết cho cộng đồng người LGBT

1.6. Những vấn đề của người đồng tính

1.7. Những vấn đề của người song tính

1.8. Những vấn đề của người chuyển giới

1.9. Quyền con người và quyền kết hôn của người LGBT dưới góc độ quyền con người

1.9.1. Khái niệm quyền con người

1.9.2. Vấn đề quyền kết hôn của người LGBT dưới góc độ quyền con người

2. CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG ĐỜI SỐNG XÃ HỘI, PHÁP LUẬT CỦA CỘNG ĐỒNG NGƯỜI LGBT Ở VIỆT NAM VÀ VẤN ĐỀ QUYỀN KẾT HÔN CỦA HỌ

2.1. Khái quát thực trạng cuộc sống và tình hình phát triển của cộng đồng người LGBT tại Việt Nam

2.2. Thực trạng người đồng tính và song tính tại Việt Nam hiện nay

2.3. Thực trạng người chuyển giới tại Việt Nam

2.4. Một số vấn đề pháp lý về quyền kết hôn của người đồng tính, song tính

2.4.1. Quyền kết hôn là quyền cơ bản của con người

2.4.2. Thực trạng pháp luật về quyền kết hôn của người đồng tính, song tính

2.4.3. Vấn đề pháp lý liên quan đến người chuyển giới tại Việt Nam hiện nay

2.4.4. Một vài khoảng trống trong quy định pháp luật và thi hành pháp luật đối với người LGBT

3. CHƯƠNG 3: MỘT SỐ KIẾN NGHỊ NHẰM ĐẢM BẢO QUYỀN KẾT HÔN CỦA NGƯỜI LGBT DƯỚI GÓC ĐỘ QUYỀN CON NGƯỜI

3.1. Sự cần thiết phải thay đổi nhận thức và pháp luật ở Việt Nam về vấn đề kết hôn giữa những người LGBT

3.2. Một số kiến nghị chung

3.3. Một số kiến nghị cụ thể trong lĩnh vực dân sự

3.3.1. Về quyền của người đồng tính, song tính

3.3.2. Về quyền của người chuyển giới

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

DANH MỤC CÁC BẢNG

Tóm tắt

I. Tổng quan về quyền kết hôn của người LGBT dưới góc độ quyền con người

Quyền kết hôn của người LGBT là một vấn đề quan trọng trong bối cảnh quyền con người hiện đại. Việc thừa nhận quyền kết hôn không chỉ là một bước tiến trong việc bảo vệ quyền lợi của cộng đồng LGBT mà còn là một dấu hiệu cho thấy sự tiến bộ của xã hội. Quyền kết hôn được xem là một quyền tự do chính đáng của mỗi cá nhân, bất kể họ thuộc giới tính nào. Tuy nhiên, thực tế cho thấy rằng quyền này vẫn chưa được công nhận đầy đủ ở nhiều quốc gia, trong đó có Việt Nam. Điều này dẫn đến nhiều thách thức cho cộng đồng LGBT trong việc thực hiện quyền lợi của mình.

1.1. Khái niệm quyền con người và quyền kết hôn

Quyền con người là những quyền cơ bản mà mọi người đều có, bao gồm quyền sống, quyền tự do và quyền được bảo vệ trước sự phân biệt. Quyền kết hôn là một phần của quyền con người, cho phép cá nhân tự do lựa chọn bạn đời và xây dựng gia đình. Tuy nhiên, nhiều quốc gia vẫn chưa công nhận quyền kết hôn của người LGBT, dẫn đến sự phân biệt và kỳ thị.

1.2. Tình hình pháp lý về quyền kết hôn của người LGBT

Tại nhiều quốc gia, quyền kết hôn của người LGBT vẫn chưa được công nhận. Một số quốc gia đã hợp pháp hóa hôn nhân đồng giới, trong khi đó, nhiều nơi khác vẫn xem đây là hành vi vi phạm pháp luật. Tại Việt Nam, vấn đề này đang được thảo luận trong bối cảnh sửa đổi Bộ luật dân sự và Luật hôn nhân và gia đình.

II. Những thách thức đối với quyền kết hôn của người LGBT

Mặc dù quyền kết hôn của người LGBT đã được thảo luận nhiều, nhưng vẫn còn nhiều thách thức cần phải vượt qua. Những thách thức này không chỉ đến từ hệ thống pháp luật mà còn từ nhận thức xã hội. Sự kỳ thị và phân biệt đối xử vẫn tồn tại, ảnh hưởng đến cuộc sống của người LGBT. Việc thiếu sự hỗ trợ từ chính phủ và cộng đồng cũng làm cho quyền kết hôn trở nên khó khăn hơn.

2.1. Sự kỳ thị và phân biệt đối xử

Kỳ thị và phân biệt đối xử đối với người LGBT vẫn là một vấn đề nghiêm trọng. Nhiều người vẫn coi đồng tính là một bệnh tật hoặc một tệ nạn xã hội, dẫn đến việc họ không dám công khai bản thân. Điều này không chỉ ảnh hưởng đến tâm lý mà còn đến quyền lợi hợp pháp của họ.

2.2. Thiếu sự hỗ trợ từ chính phủ

Nhiều quốc gia chưa có chính sách rõ ràng để bảo vệ quyền lợi của người LGBT, dẫn đến việc họ không được hỗ trợ trong việc thực hiện quyền kết hôn. Sự thiếu hụt này không chỉ làm giảm khả năng tiếp cận quyền lợi mà còn tạo ra môi trường không thân thiện cho cộng đồng LGBT.

III. Phương pháp giải quyết vấn đề quyền kết hôn của người LGBT

Để đảm bảo quyền kết hôn của người LGBT, cần có những phương pháp giải quyết hiệu quả. Việc thay đổi nhận thức xã hội và cải cách pháp luật là hai yếu tố quan trọng. Cần có sự tham gia của các tổ chức xã hội, chính phủ và cộng đồng để thúc đẩy sự thay đổi này.

3.1. Thay đổi nhận thức xã hội

Giáo dục và nâng cao nhận thức về quyền của người LGBT là rất cần thiết. Các chương trình truyền thông có thể giúp giảm bớt sự kỳ thị và phân biệt đối xử, tạo ra một môi trường thân thiện hơn cho cộng đồng LGBT.

3.2. Cải cách pháp luật

Cần có những cải cách pháp luật để công nhận quyền kết hôn của người LGBT. Việc sửa đổi các quy định trong Bộ luật dân sự và Luật hôn nhân và gia đình sẽ giúp bảo vệ quyền lợi của người LGBT và đảm bảo họ có thể thực hiện quyền kết hôn một cách hợp pháp.

IV. Ứng dụng thực tiễn và kết quả nghiên cứu về quyền kết hôn của người LGBT

Nghiên cứu về quyền kết hôn của người LGBT đã chỉ ra rằng việc công nhận quyền này không chỉ mang lại lợi ích cho cá nhân mà còn cho toàn xã hội. Các nghiên cứu cho thấy rằng khi quyền kết hôn được công nhận, cộng đồng LGBT sẽ có thể sống hạnh phúc và hòa nhập hơn vào xã hội.

4.1. Lợi ích của việc công nhận quyền kết hôn

Việc công nhận quyền kết hôn của người LGBT mang lại nhiều lợi ích, bao gồm sự ổn định trong cuộc sống cá nhân và gia đình. Nó cũng giúp giảm bớt sự kỳ thị và phân biệt đối xử, tạo ra một xã hội hòa nhập hơn.

4.2. Kết quả từ các nghiên cứu quốc tế

Nhiều nghiên cứu quốc tế đã chỉ ra rằng các quốc gia công nhận quyền kết hôn của người LGBT có tỷ lệ hạnh phúc cao hơn trong cộng đồng LGBT. Điều này cho thấy rằng việc công nhận quyền kết hôn không chỉ là một vấn đề pháp lý mà còn là một vấn đề nhân văn.

V. Kết luận và tương lai của quyền kết hôn của người LGBT

Quyền kết hôn của người LGBT là một vấn đề quan trọng trong bối cảnh quyền con người hiện đại. Mặc dù còn nhiều thách thức, nhưng việc thay đổi nhận thức xã hội và cải cách pháp luật có thể giúp đảm bảo quyền lợi cho cộng đồng LGBT. Tương lai của quyền kết hôn của người LGBT phụ thuộc vào sự nỗ lực của cả xã hội trong việc tạo ra một môi trường thân thiện và công bằng.

5.1. Tương lai của quyền kết hôn

Tương lai của quyền kết hôn của người LGBT sẽ phụ thuộc vào sự thay đổi trong nhận thức xã hội và sự hỗ trợ từ chính phủ. Cần có những nỗ lực liên tục để đảm bảo rằng quyền lợi của người LGBT được công nhận và bảo vệ.

5.2. Vai trò của cộng đồng trong việc thúc đẩy quyền lợi

Cộng đồng có vai trò quan trọng trong việc thúc đẩy quyền lợi của người LGBT. Sự tham gia của các tổ chức xã hội và cá nhân trong việc bảo vệ quyền lợi của người LGBT sẽ giúp tạo ra một xã hội công bằng và hòa nhập hơn.

19/07/2025
Luận văn thạc sĩ vnu ls kết hôn giữa những người lgbt dưới góc độ quyền con người

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1 TỔNG QUAN VỀ CỘNG ĐỒNG NGƯỜI LGBT VÀ QUYỀN KẾT HÔN CỦA HỌ DƯỚI GÓC ĐỘ QUYỀN CON NGƯỜI 1. Đồng tính, song tính là các thiên hướng tính dục Nhiều người thường quan niệm rằng đồng tính hoặc song tính là giới tính thứ ba bên cạnh hai giới tính khác là nam và nữ, song thực tế trong xã hội chỉ tồn tại hai giới tính là nam và nữ, còn đồng tính, song tính không phải là giới tính mà nó liên quan đến một khái niệm khác gọi là thiên hướng tính dục. Thiên hướng tính dục (hay còn gọi là xu hướng tính dục) là khái niệm dùng để chỉ việc chịu sự hấp dẫn về tình cảm, sự lãng mạn, trìu mến và hấp dẫn về tình dục của một người đối với những người cùng giới tính, khác giới tính hay cả hai giới tính… Trên thực tế hiện nay có bốn thiên hướng tính dục chính là dị tính, đồng tính, song tính và vô tính. Tồn tại phổ biến trong xã hội và dễ nhận thấy nhất đó là thiên hướng tính dục dị tính là những người bị hấp dẫn về mặt tình cảm và tình dục với những người khác giới tính và không mong muốn mình có giới tính khác với giới tính khi được sinh ra.

Ví dụ như nam thì bị hấp dẫn bởi nữ và nữ thì bị hấp dẫn bởi nam. Chính vì đây là thiên hương tính dục phổ biến trong xã hội nên việc quan niệm và xây dựng mô hình gia đình với sự kết hợp giữa một nam và một nữ đã trở thành xu hướng đông đảo nhất và trở thành quan niệm truyền thống của nhiều quốc gia trên thế giới. Thiên hướng tính dục đồng tính là những người bị hấp dẫn bởi những người cùng giới tính với mình, không mong muốn có giới tính khác với giới tính của mình khi được sinh ra. Đồng tính có ở cả nam giới (tiếng anh gọi là Gay) và nữ giới (tiếng anh gọi là Lesbian).

Thiên hướng tính dục song tính là những người không cho rằng bản 6 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com thân họ mang giới tính khác với giới tính sinh học từ khi được sinh ra nhưng họ lại bị hấp dẫn tình cảm và tình dục bởi cả hai giới tính nam và nữ. Song tính khác với thuật ngữ lưỡng tính, lưỡng tính thường được hiểu là một người mang cả giới tính nam và nữ, đây là một hiện tượng rất hiếm gặp trong cuộc sống, người lưỡng tính thực sự thì trong cơ thể có cả buồng trứng và tinh hoàn, còn song tính là người có hai thiên hướng tính dục đồng tính và dị tính không phải mang hai giới tính. Vô tính được xem là thiên hướng tính dục thứ tư, là những người không bị hấp dẫn bởi bất cứ giới nào (asexual- vô tính), đây là thiên hướng tính dục chưa được nghiên cứu nhiều lắm. Như vậy, đồng tính và song tính là hai trong số bốn thiên hướng tính dục của loài người, không liên quan đến vấn đề giới tính ở đây.

Một người mang giới tính nam hoàn toàn có thể là người đồng tính, song tính hay dị tính. Trên thực tế không phải lúc nào thiên hướng tính dục cũng được biểu lộ rõ ràng để mọi người nhận thấy mà nhiều khi nó được dấu kín, đặc biệt là đối với các thiên hướng tính dục chiếm số ít như đồng tính và song tính. Xuất phát từ nhiều nguyên nhân khác nhau như: thiên hướng tính dục đó chiếm số ít trong xã hội, dễ bị kỳ thị, xa lánh nên những người mang thiên hướng tính dục đồng tính, song tính thường không muốn công khai thiên hướng tính dục của mình. Theo kết quả điều tra của Viện nghiên cứu xã hội, kinh tế và môi trường (iSEE) năm 2009 với người đồng tính nam, chỉ có 2,5% số người được hỏi là công khai hoàn toàn về thiên hướng tính dục của mình và 5% thì gần như là công khai.

Trong khi đó có 32,5% đang hoàn toàn bí mật về thiên hướng tính dục của mình và 35% thì gần như là hoàn toàn bí mật. Số 25% còn lại thì lúc bí mật, lúc công khai tùy thuộc vào môi trường, hoàn cảnh. Sự hình thành và phát triển của thiên hướng tính dục ở mỗi người khác nhau là khác nhau, nó phát triển như thế nào ở mỗi người cũng chưa được bản 7 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com thân họ hiểu rõ, rất nhiều người đến khi trưởng thành mới nhận dạng được đầy đủ thiên hướng tính dục của mình. Dù các nhà khoa học vẫn chưa có kết luận cuối cùng về quá trình hình thành và phát triển của các thiên hướng tính dục ở mỗi người, tuy nhiên họ đã thống nhất và đưa ra quan điểm rằng ở nhiều người thiên hướng tính dục được hình thành từ rất sớm do tác động qua lại phức tạp của các yếu tố sinh học (yếu tố chính và cơ bản), tâm lý và môi trường sống.

Trong đó yếu tố tâm lý và môi trường sống chỉ là yếu tố phụ, góp phần thể hiện rõ ràng hơn thiên hướng tính dục, còn yếu tố sinh học vẫn là yếu tố cơ bản quyết định thiên hướng tính dục ở mỗi người. Như vậy, nguyên nhân làm cho một người yêu một người cùng giới tính cũng chính là nguyên nhân làm cho một người yêu người khác giới tính, nghĩa là đồng tính, song tính hay dị tính đều là thiên hướng tính dục tự nhiên, bình thường của con người. Có nhiều trường hợp đã cố gắng thay đổi thiên hướng tính dục từ đồng tính sang dị tính trong nhiều năm nhưng không thành công. Điều đó có thể thấy thiên hướng tính dục không được coi là sự lựa chọn có ý thức mà người ta có thể tùy ý thay đổi được mà đó là bản chất tự nhiên, vốn có của mỗi con người từ khi sinh ra.

Đồng tính và nhận thức của xã hội về người đồng tính Hiện nay có rất nhiều cuộc tranh luận xung quanh vấn đề nguồn gốc của hiện tượng đồng tính, một số người cho rằng đó là chuyện bình thường, một số khác lại cho rằng đó là một loại bệnh hay một dạng tệ nạn xã hội. Trên thực tế vẫn còn tồn tại khá nhiều các quan niệm cho đó là bệnh và dẫn đến việc xa lánh, kỳ thị đối với những người đồng tính. Các nghiên cứu khoa học đã chứng minh đồng tính không phải là một loại bệnh mà là thiên hướng tính dục tự nhiên của con người. Dưới góc độ sinh học thì những nghiên cứu về di truyền học khẳng định rằng nguyên nhân của đồng tính bắt nguồn từ những xung đột về gen.

Giáo sư John Micheal 8 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Bailey thuộc Đại học Norhwesterm, Chicago vào thập niên 1990, khảo sát 110 cặp song sinh đồng trứng và đồng phái đã được tách rời từ sơ sinh, nuôi riêng biệt trong những môi trường khác nhau. Kết quả tìm ra là nếu trong những cặp song sinh này có một người đồng tính thì khả năng những người kia cũng đồng tính là 52%. So với các cặp song sinh khác trứng, khả năng này giảm xuống còn 22%. Đối với anh, chị, em đồng phái không song sinh khả năng này giảm xuống còn 11%.

Điều này nói lên ý nghĩa quan trọng của yếu tố di truyền trong việc hình thành tính dục của cá nhân. Bác sĩ Simom Le Vay, khoa thần kinh, Viện Salk (1991) đã công bố nghiên cứu giải phẫu một phần não vùng dưới đầu của 41 tử thi. Đây là những người đã tử vong do nhiều nguyên nhân khác nhau, trong số họ, có 16 người đồng tính. Bác sĩ đã phát hiện ra rằng ở những người đồng tính, thành phần INAH3 (cấu trúc nhỏ được biết đến như một yếu tố điều khiển thái độ tính dục ở động vật có vú) nhỏ hơn hai lần so với những người khác.

Bên cạnh đó còn những nghiên cứu khác nhau như nghiên cứu giải phẫu, nghiên cứu gen, nghiên cứu nội tiết, các nhà khoa học đều khẳng định rằng một người có quan hệ tính dục đồng giới hay khác giới (hoặc có thể là cả hai thái độ trên) đều là từ khi cha sinh mẹ đẻ chứ không liên quan đến chuyện giáo dục hay môi trường sống. Dưới góc độ tâm lý học, trong một công trình khảo cứu được tiến hành vào năm 1954, nhà tâm lý học người Mỹ Evelyn Hooker đã chọn mẫu khảo cứu gồm 30 người đồng tính nam trong cộng đồng (không phải là khách hàng của bà) và 30 người dị tính nam trong các tổ chức cộng đồng. Sau khi áp dụng đồng nhất ba trắc nghiệm (Rorschach, Thematic Apperception Test và Make- A- Picture Story Test) cho tất cả mọi người trong hai nhóm, để khảo sát tâm lý, đo lường khả năng hội nhập, khả năng trí tuệ… bà nhập chung họ lại và phân nhóm theo tuổi tác, chỉ số thông minh và trình độ giáo dục. 9 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Không được cho biết về tính dục của các đối tượng, hai chuyên gia Rorschach độc lập là Bruno Klopfer và Edwin Scheneidman phân tích kết quả khảo cứu đã không phân biệt được người nào là đồng tính người nào là dị tính.

Một chuyên gia thứ ba là Mortimer Mayer duyệt xét khả năng hội nhập về tâm lý của các đối tượng cũng không thấy được sự khác biệt đáng kể nào giữa hai nhóm đồng tính và dị tính. Evelyn Hooker kết luận đồng tính không phải là một trạng thái lâm sàng và không liên quan gì đến khoa tâm lý bệnh học. Dựa trên kiến nghị của Evelyn Hooker và những kết quả nghiên cứu khoa học khác, Hiệp hội tâm thần học Hoa Kỳ (American Psychological Association- APA), từ năm 1973 đã loại đồng tính ra khỏi danh sách các triệu chứng và bệnh rối loạn tâm thần [4]. Hiệp hội tâm lý học Mỹ đưa ra quan điểm đồng tính là một hiện tượng sinh học tự nhiên, chịu sự tác động qua lại phức tạp của các yếu tố di truyền và yếu tố môi trường tử cung trong giai đoạn đầu ở thai nhi.

Các hành vi tình dục đồng giới, quan hệ yêu đương đồng giới là một trong các dạng thức gắn bó bình thường để đáp ứng các nhu cầu cơ bản của con người về tình yêu, sự gần gũi và quan tâm.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ