Chương 1 TỔNG QUAN VỀ CỘNG ĐỒNG NGƯỜI LGBT VÀ QUYỀN KẾT HÔN CỦA HỌ DƯỚI GÓC ĐỘ QUYỀN CON NGƯỜI 1. Đồng tính, song tính là các thiên hướng tính dục Nhiều người thường quan niệm rằng đồng tính hoặc song tính là giới tính thứ ba bên cạnh hai giới tính khác là nam và nữ, song thực tế trong xã hội chỉ tồn tại hai giới tính là nam và nữ, còn đồng tính, song tính không phải là giới tính mà nó liên quan đến một khái niệm khác gọi là thiên hướng tính dục. Thiên hướng tính dục (hay còn gọi là xu hướng tính dục) là khái niệm dùng để chỉ việc chịu sự hấp dẫn về tình cảm, sự lãng mạn, trìu mến và hấp dẫn về tình dục của một người đối với những người cùng giới tính, khác giới tính hay cả hai giới tính… Trên thực tế hiện nay có bốn thiên hướng tính dục chính là dị tính, đồng tính, song tính và vô tính. Tồn tại phổ biến trong xã hội và dễ nhận thấy nhất đó là thiên hướng tính dục dị tính là những người bị hấp dẫn về mặt tình cảm và tình dục với những người khác giới tính và không mong muốn mình có giới tính khác với giới tính khi được sinh ra.
Ví dụ như nam thì bị hấp dẫn bởi nữ và nữ thì bị hấp dẫn bởi nam. Chính vì đây là thiên hương tính dục phổ biến trong xã hội nên việc quan niệm và xây dựng mô hình gia đình với sự kết hợp giữa một nam và một nữ đã trở thành xu hướng đông đảo nhất và trở thành quan niệm truyền thống của nhiều quốc gia trên thế giới. Thiên hướng tính dục đồng tính là những người bị hấp dẫn bởi những người cùng giới tính với mình, không mong muốn có giới tính khác với giới tính của mình khi được sinh ra. Đồng tính có ở cả nam giới (tiếng anh gọi là Gay) và nữ giới (tiếng anh gọi là Lesbian).
Thiên hướng tính dục song tính là những người không cho rằng bản 6 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com thân họ mang giới tính khác với giới tính sinh học từ khi được sinh ra nhưng họ lại bị hấp dẫn tình cảm và tình dục bởi cả hai giới tính nam và nữ. Song tính khác với thuật ngữ lưỡng tính, lưỡng tính thường được hiểu là một người mang cả giới tính nam và nữ, đây là một hiện tượng rất hiếm gặp trong cuộc sống, người lưỡng tính thực sự thì trong cơ thể có cả buồng trứng và tinh hoàn, còn song tính là người có hai thiên hướng tính dục đồng tính và dị tính không phải mang hai giới tính. Vô tính được xem là thiên hướng tính dục thứ tư, là những người không bị hấp dẫn bởi bất cứ giới nào (asexual- vô tính), đây là thiên hướng tính dục chưa được nghiên cứu nhiều lắm. Như vậy, đồng tính và song tính là hai trong số bốn thiên hướng tính dục của loài người, không liên quan đến vấn đề giới tính ở đây.
Một người mang giới tính nam hoàn toàn có thể là người đồng tính, song tính hay dị tính. Trên thực tế không phải lúc nào thiên hướng tính dục cũng được biểu lộ rõ ràng để mọi người nhận thấy mà nhiều khi nó được dấu kín, đặc biệt là đối với các thiên hướng tính dục chiếm số ít như đồng tính và song tính. Xuất phát từ nhiều nguyên nhân khác nhau như: thiên hướng tính dục đó chiếm số ít trong xã hội, dễ bị kỳ thị, xa lánh nên những người mang thiên hướng tính dục đồng tính, song tính thường không muốn công khai thiên hướng tính dục của mình. Theo kết quả điều tra của Viện nghiên cứu xã hội, kinh tế và môi trường (iSEE) năm 2009 với người đồng tính nam, chỉ có 2,5% số người được hỏi là công khai hoàn toàn về thiên hướng tính dục của mình và 5% thì gần như là công khai.
Trong khi đó có 32,5% đang hoàn toàn bí mật về thiên hướng tính dục của mình và 35% thì gần như là hoàn toàn bí mật. Số 25% còn lại thì lúc bí mật, lúc công khai tùy thuộc vào môi trường, hoàn cảnh. Sự hình thành và phát triển của thiên hướng tính dục ở mỗi người khác nhau là khác nhau, nó phát triển như thế nào ở mỗi người cũng chưa được bản 7 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com thân họ hiểu rõ, rất nhiều người đến khi trưởng thành mới nhận dạng được đầy đủ thiên hướng tính dục của mình. Dù các nhà khoa học vẫn chưa có kết luận cuối cùng về quá trình hình thành và phát triển của các thiên hướng tính dục ở mỗi người, tuy nhiên họ đã thống nhất và đưa ra quan điểm rằng ở nhiều người thiên hướng tính dục được hình thành từ rất sớm do tác động qua lại phức tạp của các yếu tố sinh học (yếu tố chính và cơ bản), tâm lý và môi trường sống.
Trong đó yếu tố tâm lý và môi trường sống chỉ là yếu tố phụ, góp phần thể hiện rõ ràng hơn thiên hướng tính dục, còn yếu tố sinh học vẫn là yếu tố cơ bản quyết định thiên hướng tính dục ở mỗi người. Như vậy, nguyên nhân làm cho một người yêu một người cùng giới tính cũng chính là nguyên nhân làm cho một người yêu người khác giới tính, nghĩa là đồng tính, song tính hay dị tính đều là thiên hướng tính dục tự nhiên, bình thường của con người. Có nhiều trường hợp đã cố gắng thay đổi thiên hướng tính dục từ đồng tính sang dị tính trong nhiều năm nhưng không thành công. Điều đó có thể thấy thiên hướng tính dục không được coi là sự lựa chọn có ý thức mà người ta có thể tùy ý thay đổi được mà đó là bản chất tự nhiên, vốn có của mỗi con người từ khi sinh ra.
Đồng tính và nhận thức của xã hội về người đồng tính Hiện nay có rất nhiều cuộc tranh luận xung quanh vấn đề nguồn gốc của hiện tượng đồng tính, một số người cho rằng đó là chuyện bình thường, một số khác lại cho rằng đó là một loại bệnh hay một dạng tệ nạn xã hội. Trên thực tế vẫn còn tồn tại khá nhiều các quan niệm cho đó là bệnh và dẫn đến việc xa lánh, kỳ thị đối với những người đồng tính. Các nghiên cứu khoa học đã chứng minh đồng tính không phải là một loại bệnh mà là thiên hướng tính dục tự nhiên của con người. Dưới góc độ sinh học thì những nghiên cứu về di truyền học khẳng định rằng nguyên nhân của đồng tính bắt nguồn từ những xung đột về gen.
Giáo sư John Micheal 8 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Bailey thuộc Đại học Norhwesterm, Chicago vào thập niên 1990, khảo sát 110 cặp song sinh đồng trứng và đồng phái đã được tách rời từ sơ sinh, nuôi riêng biệt trong những môi trường khác nhau. Kết quả tìm ra là nếu trong những cặp song sinh này có một người đồng tính thì khả năng những người kia cũng đồng tính là 52%. So với các cặp song sinh khác trứng, khả năng này giảm xuống còn 22%. Đối với anh, chị, em đồng phái không song sinh khả năng này giảm xuống còn 11%.
Điều này nói lên ý nghĩa quan trọng của yếu tố di truyền trong việc hình thành tính dục của cá nhân. Bác sĩ Simom Le Vay, khoa thần kinh, Viện Salk (1991) đã công bố nghiên cứu giải phẫu một phần não vùng dưới đầu của 41 tử thi. Đây là những người đã tử vong do nhiều nguyên nhân khác nhau, trong số họ, có 16 người đồng tính. Bác sĩ đã phát hiện ra rằng ở những người đồng tính, thành phần INAH3 (cấu trúc nhỏ được biết đến như một yếu tố điều khiển thái độ tính dục ở động vật có vú) nhỏ hơn hai lần so với những người khác.
Bên cạnh đó còn những nghiên cứu khác nhau như nghiên cứu giải phẫu, nghiên cứu gen, nghiên cứu nội tiết, các nhà khoa học đều khẳng định rằng một người có quan hệ tính dục đồng giới hay khác giới (hoặc có thể là cả hai thái độ trên) đều là từ khi cha sinh mẹ đẻ chứ không liên quan đến chuyện giáo dục hay môi trường sống. Dưới góc độ tâm lý học, trong một công trình khảo cứu được tiến hành vào năm 1954, nhà tâm lý học người Mỹ Evelyn Hooker đã chọn mẫu khảo cứu gồm 30 người đồng tính nam trong cộng đồng (không phải là khách hàng của bà) và 30 người dị tính nam trong các tổ chức cộng đồng. Sau khi áp dụng đồng nhất ba trắc nghiệm (Rorschach, Thematic Apperception Test và Make- A- Picture Story Test) cho tất cả mọi người trong hai nhóm, để khảo sát tâm lý, đo lường khả năng hội nhập, khả năng trí tuệ… bà nhập chung họ lại và phân nhóm theo tuổi tác, chỉ số thông minh và trình độ giáo dục. 9 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Không được cho biết về tính dục của các đối tượng, hai chuyên gia Rorschach độc lập là Bruno Klopfer và Edwin Scheneidman phân tích kết quả khảo cứu đã không phân biệt được người nào là đồng tính người nào là dị tính.
Một chuyên gia thứ ba là Mortimer Mayer duyệt xét khả năng hội nhập về tâm lý của các đối tượng cũng không thấy được sự khác biệt đáng kể nào giữa hai nhóm đồng tính và dị tính. Evelyn Hooker kết luận đồng tính không phải là một trạng thái lâm sàng và không liên quan gì đến khoa tâm lý bệnh học. Dựa trên kiến nghị của Evelyn Hooker và những kết quả nghiên cứu khoa học khác, Hiệp hội tâm thần học Hoa Kỳ (American Psychological Association- APA), từ năm 1973 đã loại đồng tính ra khỏi danh sách các triệu chứng và bệnh rối loạn tâm thần [4]. Hiệp hội tâm lý học Mỹ đưa ra quan điểm đồng tính là một hiện tượng sinh học tự nhiên, chịu sự tác động qua lại phức tạp của các yếu tố di truyền và yếu tố môi trường tử cung trong giai đoạn đầu ở thai nhi.
Các hành vi tình dục đồng giới, quan hệ yêu đương đồng giới là một trong các dạng thức gắn bó bình thường để đáp ứng các nhu cầu cơ bản của con người về tình yêu, sự gần gũi và quan tâm.