Chương 1: Khái quát chung về Tư pháp La Mã và quan hệ vật quyền trong Tư pháp La Mã. Chương 2: Vật trong Tư pháp La Mã. Chương 3: Vật quyền trong Tư pháp La Mã. Chương 4: Ảnh hưởng của Tư pháp La Mã đến pháp luật các nước.
5 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com CHƢƠNG 1 KHÁI QUÁT CHUNG VỀ TƢ PHÁP LA MÃ VÀ QUAN HỆ VẬT QUYỀN TRONG TƢ PHÁP LA MÃ 1. Hệ thống Tư pháp La Mã. Lịch sử hình thành. Sơ lược lịch sử Đế chế La Mã.
La Mã là tên một quốc gia mà nơi phát nguyên là ở bán đảo Italia. Lịch sử La Mã có thể chia thành ba thời kỳ lớn là thời kỳ Vương chính, thời kỳ cộng hòa và thời kỳ quân chủ chuyên chế. La Mã là một quốc gia hình thành vào thế kỷ thứ VII trước công nguyên và tồn tại đến thế hỷ VII sau công nguyên. Thời kỳ Vương chính: Theo truyền thuyết, thành La Mã do vua Romulus xây dựng năm 753 TCN, do đó tên của ông được dùng để đặt tên cho thành này.
Giai đoạn từ năm 753 TCN – 510 TCN là giai đoạn vương chính, xã hội phân biệt theo huyết tộc. Ban đầu hình thành nên các thị tộc, cứ 100 thị tộc kết hợp thành một bộ lạc. Sau đó bộ lạc Xabelian (khoảng 100 thị tộc) sáp nhập vào và bộ lạc thứ ba gồm những thành phần khác nhau tương ứng với 100 thị tộc, do vậy 300 thị tộc đã thành lập được ba bộ lạc. Theo cơ cấu, cứ 10 thị tộc lập thành một bào tộc, 10 bào tộc (curia) lập thành một bộ lạc.
Thị tộc của người La Mã ở những thời kỳ đầu của thành La Mã đã tồn tại chế độ tài sản đều là của chung thị tộc, các thành viên trong thị tộc có quyền thừa kế của nhau, chế độ phụ quyền đã hình thành. Sự phân hóa xã hội càng sâu sắc xã hội thị tộc của người La Mã được quản lý bằng ba cơ quan quyền lực bao gồm: Viện nguyên lão: là những thủ lĩnh của 300 thị tộc hợp thành, do vậy số lượng thành viên của viện nguyên lão là 300 người. Viện nguyên lão là cơ quan có quyền lực tối cao, có quyền quyết định mọi công việc quan trọng của nhà nước La Mã. Viện nguyên lão có các quyền thảo luận trước về các đạo luật, có quyền phê chuẩn hoặc phủ quyết những nghị quyết của đại hội nhân dân; Đại hội nhân dân: là cơ quan quyền lực thứ hai của nhà nước La Mã.
Đây là đại hội của tất cả đàn ông của 300 thị tộc và mỗi người thể hiện ý muốn của mình bằng một lá 6 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com phiếu trong đại hội. Đại hội có quyền quyết định những vấn đề quan trọng của nhà nước La Mã như tuyên chiến hay hòa bình, xét xử, tế lễ và bầu ra một ông vua (Rex) trong số người đại diện cho bào tộc. Người làm vua không được cha truyền con nối và có thể bị bãi miễn trong đại hội nhân dân. Vua chỉ được hiểu theo nghĩa thủ lĩnh quân sự của ba bộ lạc người La Mã và quyền hành không bao trùm như các vua sau này.
Như vậy khi mới thành lập, nhà nước La Mã gồm có vua, Viện nguyên lão và Đại hội nhân dân (Comitia Curiata). Thời kỳ Cộng hòa: Sự thực nhà nước La Mã ra đời vào giữa thế kỷ VI TCN, do cuộc cải cách của vua Xecviut Tuliut, xã hội được phân thành 6 đẳng cấp dựa trên mức độ tài sản bao gồm: Đẳng cấp thứ nhất gồm những người có mức tài sản trên 100.000 đồng axơ (AS); Đẳng cấp thứ hai gồm những người có từ 75.000 đồng axơ đến dưới 100.000 đồng axơ, Đẳng cấp thứ ba gồm những người có từ 50.000 đồng axơ đến dưới 75.000 đồng axơ; Đẳng cấp thứ tư gồm những người có từ 25.000 đồng axơ đến dưới 50.000 đồng axơ; Đẳng cấp thứ năm gồm những người có từ 11.500 đồng axơ đến dưới 25.000 đồng axơ; Đẳng cấp thứ sáu là những người đàn ông ít của cải nhất [3]. Vào khoảng năm 510 TCN, người La Mã nổi dậy khởi nghĩa lật đổ vua Taccanh kiêu ngạo, từ đó chính quyền thành việc của dân, do vậy chế độ nhà nước mới gọi là Respublica (là từ ghép bao gồm res (vật, việc) và publica (chung), từ đó nói rằng: từ nay mọi công việc quản lý nhà nước là công việc chung của mọi người dân) tức là chế độ cộng hòa. Bộ máy nhà nước thời kỳ bao gồm: Viện nguyên lão (Senatus) gồm 300 đại diện của tầng lớp quý tộc, Đại hội nhân dân (Comitia Centuriata) gồm đại diện của 6 đẳng cấp, và Bộ máy hành chính (Magistratus) gồm các chức quan như: consul, praetor, censor, edill, quaestor, tribul.
Magistratus là hệ thống quản lý nhà nước thống nhất của nhà nước Cộng hòa La Mã. Magister là tên gọi chung cho các quan chức trong cả hệ thống magistratus. Các magister này được 7 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com phân thành các loại sau: Consul: hai quan chức tối cao của hệ thống quản lý nhà nước, chuyên nắm giữ quyền lực tối cao trong các vấn đề quân sự, triệu tập và chủ trì các phiên họp của hội đồng tối cao và viện nguyên lão; Praetor: các quan chức được coi là phó cho hai Consul, nhưng trên thực tế lại là các quan chức trực tiếp thực hiện quản lý điều hành đất nước, thực hiện mọi chức năng quản lý của Consul khi Consul vắng mặt như: triệu tập hợp hội nghị và viện nguyên lão, quản lý mọi mặt trong nước, ban hành văn bản pháp luật, xét xử, xử phạt…; Censor: Các quan chức kiểm duyệt thực hiện chức năng quản lý dân số, phân chia dân số theo các Centuria và Tribus, phân loại công dân theo đẳng cấp, độ tuổi, tài sản, quản lý danh sách các thành viên viện nguyên lão…; Edill: các quan chức bảo an, thực hiện chức năng giám sát trật tự công cộng, chống hỏa hoạn, giám sát việc cung cấp lương thực cho thành phố, quản lý việc buôn bán; Quaestor: Các nhân viên trợ lý giúp việc cho các Consul trong các lĩnh vực xét xử hình sự, quản lý ngân sách và lưu trữ quốc gia; Các Magister thanh tra chuyên giám sát hoạt động của các Magister chuyên trách nói trên. Khi mới thành lập, La Mã chỉ là một thành bang nhỏ ở miền Trung bán đảo Italia.
Từ thế kỷ IV TCN, La Mã không ngừng xâm lược ra bên ngoài, và hơn một thế kỷ sao, La Mã đã chinh phục được toàn bộ bán đảo Italia. Tuy chế độ cộng hòa đã được thiết lập nhưng sự cách biệt giữa quý tộc và bình dân vẫn rất lớn. Vì vậy, bình dân đã đấu tranh với quý tộc trong hai trăm năm để đòi giải quyết các yêu cầu của họ. Kết quả là bình dân đã được thỏa mãn các yêu cầu như được cử quan Bảo dân để bênh vực quyền lợi của mình, được chia ruộng đất, được kết hôn với quý tộc, được làm quan chấp chính, bình dân nếu phá sản cũng không biến thành nô lệ… Thắng lợi của bình dân đã làm cho chế độ cộng hòa quý tộc của La Mã được dân chủ hóa thêm một bước so với trước.
Thời kỳ quân chủ: Do chiến tranh liên tiếp diễn ra, La Mã giành được nhiều thắng lợi, số tù binh bắt được rất nhiều, tình hình đó làm cho chế độ nô lệ phát triển mạnh mẽ, dân số nô lệ nhiều hơn dân số nông dân và lao động của nô lệ giữ vai trò 8 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com quan trọng nhất trong các ngành kinh tế. Từ thế kỷ I TCN, chế độ cộng hòa ở La Mã dần dần bị chế độ độc tài thay thế. Do bất đồng với nhau trong việc giải quyết những vấn đề của đất nước, các phe phái trong giai cấp chủ nô La Mã đã tạo điều kiện cho các tướng lĩnh đứng lên nắm chính quyền. Người dành được quyền độc tài đầu tiên là Xila.
Năm 82 TCN, Xila tuyên bố làm độc tài suốt đời nhưng đến năm 79 TCN vì ốm nặng phải từ chức và đến năm 78 TCN thì chết. Sau khi đàn áp cuộc khởi nghĩa Spactacus, ở La Mã xuất hiện chính quyền tay ba lần thứ nhất vào năm 60 TCN bao gồm Caesar, Pompeius và Crassus. Năm 43 TCN, ở La Mã xuất hiện chính quyền tay ba lần thứ hai, đó là Antonius, Lepidus, Octavious. Năm 29 TCN, Octavious trở thành người thống trị duy nhất của toàn đế quốc.
Mặc dù chưa xưng hoàng đế nhưng ông được tôn làm nguyên thủ, được dâng danh hiệu Augustus nghĩa là đấng chí tôn và nhiều danh hiệu cao quý khác. Như vậy Octavious thực chất đã trở thành một hoàng đế và La Mã tuy vẫn mang danh nghĩa là chế độ cộng hòa nhưng thực chất đã chuyển sang chế độ quân chủ chuyên chế [9]. Sự suy vong của Đế quốc La Mã: Đến thời quân chủ, chế độ nô lệ ở La Mã ngày càng khủng hoảng trầm trọng. Để khắc phục tình trạng đó, giai cấp địa chủ chủ nô phải thay đổi cách bóc lột: giao khoán từng khoảnh ruộng (peculium) cho nô lệ canh tác và nộp tô cho chủ nô.
Việc đó dẫn đến sự ra đời của một tầng lớp xã hội mới gọi là lệ nông – tiền thân của nông nô thời trung đại sau này. Đến thể kỉ III, công thương nghiệp phát triển một thời cũng nhanh chóng suy sụp, cư dân thành thị giảm sút, thành thị trở nên điêu tàn, mối liên hệ kinh tế giữa các nơi của đế quốc không còn chặt chẽ nữa. Trong hoàn cảnh đó, do miền Đông nhờ có sự liên hệ với các nước phương Đông, kinh tế còn có thể phát triển thuận lợi hơn ở miền Tây, đến năm 330, hoàng đế Constantious đã rời đô từ Roma sang 9 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Bizantium (nằm ở yết hầu giữa 2 châu lục Âu và Á), đổi tên thành phố đó là Constantinopolis. Năm 395, hoàng đế Teododious chia đế quốc thành hai nước: đế quốc Đông La Mã đóng đô ở Constantinopolis và đế quốc Tây La Mã đóng đô ở Roma.
Trong khi đó, đến thế kỉ IV, người German đã di cư ồ ạt vào lãnh thổ của đế quốc La Mã. Lúc bấy giờ, họ đang sống trong xã hội nguyên thủy nên người La Mã gọi họ là Man tộc. Sang thế kỉ V, một số bộ lạc German đã thành lập các vương quốc của mình trên đất đai của Tây La Mã. Đến thập kỉ 70 của thế kỉ V, đế quốc Tây La Mã chỉ còn lại một vùng nhỏ bé mà ở đó chính quyền thực tế đã nằm trong tay các tướng lĩnh người German.
Năm 476, thủ lĩnh quân đánh thuê người German là Odoacre đã lật đổ hoàng đế cuối cùng của Tây La Mã là Rolomus Augustuler rồi tự xưng là hoàng đế.