Chương 1: Lý luận về người khuyết tật, quyền của người khuyết tật, pháp luật về quyền của người khuyết tật - Chương 2: Quyền của người khuyết tật trong luật nhân quyền quốc tế và pháp luật Việt Nam - Chương 3: Hoàn thiện pháp luật và cơ chế bảo đảm quyền của người khuyết tật ở Việt Nam trong giai đoạn hiện nay 4 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Chƣơng 1 LÝ LUẬN VỀ NGƢỜI KHUYẾT TẬT, QUYỀN CỦA NGƢỜI KHUYẾT TẬT, PHÁP LUẬT VỀ QUYỀN CỦA NGƢỜI KHUYẾT TẬT 1. Ngƣời khuyết tật 1. Khái niệm người khuyết tật Lịch sử loài ngƣời đã chứng minh rằng, về mặt cơ thể học, xã hội bao giờ cũng gồm hai nhóm ngƣời: ngƣời lành lặn và NKT [1, tr. NKT không phải là vấn đề mới và không có một quốc gia nào trên thế giới lại không có NKT sinh sống.
Tuy nhiên, vấn đề về NKT mới chính thức đƣợc quốc tế quan tâm từ năm 1981. Lâu nay, chúng ta chỉ quen với nhận thức NKT là ngƣời ăn bám gia đình và xã hội, từ đó chúng ta thƣờng có những thái độ miệt thị, khoảng cách và đối xử không công bằng trong mọi lĩnh vực đối với NKT. Chúng ta thờ ơ và lãng quên họ một cách cố tình hay vô tình khiến cho họ thực sự bị tổn thƣơng sâu sắc. Là nhóm dễ bị tổn thƣơng lại yếu thế, họ còn biết làm gì khi cả gia đình lẫn xã hội không quan tâm không tạo cơ hội cho họ hòa nhập, sống một cuộc sống tích cực và có ích cho bản thân và cho xã hội.
Chỉ sau những cuộc vận động kiên trì của các tổ chức, cá nhân hoạt động trên lĩnh vực nhân quyền, nhận thức rằng NKT cũng là chủ thể bình đẳng của các quyền con ngƣời mới dần dần chiếm ƣu thế trên thế giới. Sự chuyển biến về nhận thức dẫn tới thay đổi cả cách gọi tên của nhóm xã hội này. Thay cho việc dùng từ những người tàn tật (disable persons) có hàm ý miệt thị và hạ thấp, hiện nay, nhóm xã hội này đƣợc gọi một cách chính xác và trân trọng là những NKT (persons with disabilities). Tên gọi mới, ngoài những yếu tố khác, mang hàm ý rõ ràng rằng đây là nhóm ngƣời tuy có những khiếm khuyết về thể chất hoặc tinh thần, nhƣng họ không phải và không đƣợc coi họ là những ngƣời vô dụng, đứng ngoài lề dòng chảy và là gánh nặng cho xã hội [19, tr.
Do vấn đề NKT vẫn là vấn đề mới trong tƣ tƣởng, suy nghĩ và hành động của 5 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com mỗi chúng ta, nên khái niệm NKT hiện đang là một khái niệm gây rất nhiều tranh cãi ở các quốc gia và cho đến nay vẫn chƣa có khái niệm thống nhất về NKT áp dụng chung cho các nƣớc. Giữa các quốc gia có sự khác nhau về quan điểm khuyết tật, những quy định liên quan tới tình trạng và mức độ khuyết tật, cũng nhƣ cách sử dụng từ ngữ diễn tả. Chúng ta có thể thấy nhƣ sau: - Theo Đạo luật chống phân biệt đối xử với NKT do Quốc hội Anh ban hành (Disability Discrimination Act – DDA): NKT đƣợc định nghĩa là “một ngƣời có khiếm khuyết về thể chất, tinh thần, giác quan với tác động xấu lâu dài đến khả năng thực hiện các sinh hoạt hàng ngày…”. Cũng theo DDA, khi xét về mặt thời gian tác động thì khiếm khuyết kéo dài hoặc sẽ có thể kéo dài mà ít hơn 12 tháng bình thƣờng không đƣợc coi là khuyết tật, trừ phi là bị tái đi tái lại, một số ngƣời có khiếm khuyết kéo dài hơn một năm thì vẫn ở trong diện của DDA, cả khi họ sẽ đƣợc phục hồi hoàn toàn [37].
- Theo Đạo luật về NKT của Hoa Kỳ năm 1990 (ADA - Americans with Disabilities Act of 1990): NKT là ngƣời có sự suy yếu về thể chất hay tinh thần gây ảnh hƣởng đáng kể đến một hay nhiều hoạt động quan trọng trong cuộc sống. Cũng theo ADA những ví dụ cụ thể về khuyết tật bao gồm: khiếm khuyết về vận động, thị giác, nói và nghe, chậm phát triển tinh thần, bệnh cảm xúc và những khiếm khuyết cụ thể về học tập, bại não, động kinh, teo cơ, ung thƣ, bệnh tim, tiểu đƣờng, các bệnh lây và không lây nhƣ bệnh lao và bệnh do HIV (có triệu chứng hoặc không có triệu chứng). Có sự thống nhất tƣơng đối về định nghĩa thế nào là khuyết tật của hai đạo luật này [37]. - Theo phân loại của Tổ chức Y tế Thế giới, có ba mức độ suy giảm là: khiếm khuyết (impairment), khuyết tật (disability) và tàn tật (handicap).
Khiếm khuyết chỉ đến sự mất mát hoặc không bình thƣờng của cấu trúc cơ thể liên quan đến tâm lý hoặc/và sinh lý. Khuyết tật chỉ đến sự giảm thiểu chức năng hoạt động, là hậu quả của sự khiếm khuyết. Còn tàn tật đề cập đến tình thế bất lợi hoặc thiệt thòi của ngƣời mang khiếm khuyết do tác động của môi trƣờng xung quanh lên tình trạng khuyết tật của họ (WHO, 1999) [37]. 6 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com - Theo quan điểm của Tổ chức Quốc tế NKT, NKT trở thành tàn tật là do thiếu cơ hội để tham gia các hoạt động xã hội và có một cuộc sống giống nhƣ thành viên khác (DPI, 1982).
Do vậy, khuyết tật là một hiện tƣợng phức tạp, phản ánh sự tƣơng tác giữa các tính năng cơ thể và các tính năng xã hội mà trong đó NKT sống [37]. - Theo Luật Bảo vệ NKT năm 1990 của nƣớc Cộng hòa nhân dân Trung Hoa tại Điều 2 quy định: “NKT một trong những ngƣời bị bất thƣờng, mất mát của một cơ quan nhất định hoặc chức năng, tâm lý hay sinh lí, hoặc trong cấu trúc giải phẫu và những ngƣời đã mất toàn bộ hoặc một phần khả năng tham gia vào các hoạt động một cách bình thƣờng. “Ngƣời khuyết tật” là những ngƣời có thính giác, thị giác, lời nói hoặc khuyết tật về thể chất, chậm phát triển tâm thần, rối loạn tâm thần, khuyết tật nhiều và/hoặc khuyết tật khác” [29, tr. - Tại Điều 1 - ICRPD quy định: “Ngƣời khuyết tật bao gồm những ngƣời bị suy giảm về thể chất, thần kinh, trí tuệ hay giác quan trong một thời gian dài, có ảnh hƣởng qua lại với hàng loạt những rào cản có thể cản trở sự tham gia đầy đủ và hiệu quả của ngƣời khuyết tật và xã hội trên cơ sở bình đẳng với những ngƣời khác”.
- Ở Việt Nam, khuyết tật và tàn tật là hai từ để chỉ cùng một khái niệm, từ năm 2009 trở về trƣớc chúng ta vẫn dùng song song hai từ này trên cả phƣơng tiện truyền thông đại chúng và văn bản pháp quy. Tuy nhiên, trong các pháp lệnh trƣớc đây của nhà nƣớc Việt Nam, tàn tật là cụm từ đƣợc chính thức đƣợc sử dụng [33]. Tại Điều 1 - Pháp lệnh về ngƣời tàn tật năm 1998, ngƣời tàn tật đƣợc định nghĩa nhƣ sau: “Ngƣời tàn tật theo quy định của Pháp lệnh này không phân biệt nguồn gốc gây ra tàn tật là ngƣời bị khiếm khuyết một hay nhiều bộ phận cơ thể hoặc chức năng biểu hiện dƣới những dạng tật khác nhau, làm suy giảm khả năng hoạt động, khiến cho lao động, sinh hoạt, học tập gặp nhiều khó khăn”. Đến năm 2010, Quốc hội Việt Nam đã chính thức sử dụng cụm từ NKT thay cho tàn tật trong các bộ luật ban hành có liên quan.
Theo khoản 1 - Điều 2 Luật NKT đƣợc Quốc hội nƣớc CHXHCN Việt Nam thông qua ngày 17/6/2010 và có hiệu lực từ ngày 01/01/2011, NKT đƣợc định nghĩa nhƣ sau: “NKT là ngƣời bị khiếm khuyết một hoặc nhiều bộ 7 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com phận cơ thể hoặc bị suy giảm chức năng đƣợc biểu hiện dƣới dạng tật khiến cho lao động, sinh hoạt, học tập gặp khó khăn. Đặc điểm của người khuyết tật 1. Là nhóm thiểu số lớn nhất thế giới và cũng là một trong những nhóm dễ bị tổn thương nhất Theo thống kê gần đây của Tổ chức Y tế thế giới (WHO), tổng số NKT trên thế giới vào khoảng 650 triệu, chiếm 10% dân số của nhân loai. NKT đƣợc coi là một trong nhóm thiểu số lớn nhất thế giới và cũng là một trong những nhóm dễ bị tổn thƣơng nhất, vì tình trạng khuyết tật khiến họ đã và đang phải chịu những thiệt thòi trên tất cả phƣơng diện của đời sống xã hội.
Cụ thể, theo khảo sát của Ngân hàng Thế giới (WB) và Quỹ Nhi đồng Liên Hợp Quốc (UNICEF), mặc dù chỉ chiếm 10% tổng số nhân loại song NKT chiếm tới 19% số ngƣời học vấn thấp và 20% số ngƣời nghèo trên thế giới [19, tr. Tại Việt Nam, theo số liệu khảo sát năm 2005, cả nƣớc có khoảng 5,3 triệu NKT, chiếm khoảng 6,34% dân số (trong đó có 1,1 triệu khuyết tật nặng, chiếm 21,5% tổng số NKT). Bao gồm 29,41% khuyết tật vận động, 16,83% thần kinh, 13,84% thị giác, 9,32% thính giác, 7,08% ngôn ngữ, 6,52% trí tuệ và 17% các dạng tật khác. Tỷ lệ nam là NKT cao hơn nữ do có các nguyên nhân nhƣ: hậu quả chiến tranh, tai nạn lao động, tai nạn giao thông, tai nạn thƣơng tích [14].
Theo kết quả Tổng điều tra dân số và nhà ở Việt Nam năm 2009 cho thấy, tỷ lệ NKT ở độ tuổi từ 5 tuổi trở lên chiếm 7,8% dân số tƣơng đƣơng với 6,7 triệu ngƣời, trong đó có khoảng 5,8% là nữ giới và khoảng 75% tập trung ở khu vực nông thôn. Về mặt xã hội, kết quả của một số cuộc điều tra cho thấy, gần 8% hộ gia đình ở Việt Nam có NKT, bình quân một hộ gia đình NKT có 1,12 NKT. Khoảng 75% hộ gia đình có NKT sinh sống ở khu vực nông thôn và 32,5% thuộc diện nghèo (cao gấp hai lần so với tỷ lệ nghèo chung cùng thời điểm); gần 24% những hộ gia đình có NKT phải sống trong điều kiện nhà ở tạm, 65% sống trong những ngôi nhà bán kiên cố. Do điều kiện khó khăn, hầu hết các hộ gia đình có NKT (82,2%) chỉ đảm bảo đáp ứng đƣợc nhu cầu căn bản về ăn, ở và mặc cho NKT, còn 8 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com lại các nhu cầu khác của NKT thì khả năng đáp ứng của hộ gia đình rất hạn chế.
Kết quả điều tra cũng cho thấy, trên 80% hộ gia đình có NKT đang gặp phải khó khăn trong việc khám chữa bệnh, chăm sóc sức khoẻ cho NKT, hơn một nửa hộ gia đình (51,2%) gặp khó khăn trong việc chăm sóc, hỗ trợ NKT trong sinh hoạt hàng ngày và gần 55% hộ gia đình gặp khó khăn về việc làm và vốn sản xuất kinh doanh tạo việc làm cho NKT.