Chương 1 KHÁI QUÁT VỀ QUYỀN CON NGƯỜI VÀ DÂN TỘC THIỂU SỐ 1. Quyền con người 1. Khái niệm quyền con người Quyền con ngƣời hay còn gọi là nhân quyền (human rights) là vấn đề có tầm quan trọng rất lớn trong sự phát triển văn minh nhân loại. Quyền con ngƣời là thành tựu chung của cả loài ngƣời, là kết tinh của nền văn minh nhân loại.
Những thành tựu pháp lý quốc tế về quyền con ngƣời hiện nay là sản phẩm của cuộc đấu tranh gian khổ, lâu dài của toàn thể nhân loại tiến bộ, chống áp bức, bất công, xây dựng cuộc sống tự do, bình đẳng và hạnh phúc. Quyền con ngƣời là một vấn đề khá phức tạp, liên quan đến nhiều lĩnh vực nhƣ đạo đức, chính trị, pháp lý. Chính vì vậy, hiện nay có rất nhiều định nghĩa về quyền con ngƣời, mỗi định nghĩa tiếp cận quyền con ngƣời theo những góc độ khác nhau. Thuật ngữ quyền con ngƣời lần đầu tiên có trong nhiều đề xuất của các nƣớc Liên Xô, Trung Quốc, Hoa Kỳ và Anh trong năm 1944 rồi sau đó đƣợc chính thức đƣa vào Hiến chƣơng LHQ năm 1945.
Dù ở góc độ nào, những đặc tính quan trọng nhất của quyền con ngƣời đƣợc tất cả các văn kiện của LHQ công nhận. Quyền con ngƣời là một phạm trù đa diện, do đó có nhiều định nghĩa khác nhau. Mỗi định nghĩa tiếp cận vấn đề từ một góc độ nhất định, chỉ ra những thuộc tính nhất định, nhƣng không định nghĩa nào bao hàm đƣợc tất cả các thuộc tính của quyền con ngƣời. Ở cấp độ quốc tế, định nghĩa của Văn phòng Cao ủy LHQ về quyền con ngƣời thƣờng đƣợc trích dẫn bởi các nhà nghiên cứu.
Theo định nghĩa này, quyền con ngƣời là những bảo đảm pháp lý toàn cầu (universal legal guarantees) có tác dụng bảo vệ các cá nhân và các nhóm chống lại những 8 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com hành động (actions) hoặc sự bỏ mặc (omissions) mà làm tổn hại đến nhân phẩm, những sự đƣợc phép (entitlements) và tự do cơ bản (fundamental freedoms) của con ngƣời [15]. Ở Việt Nam, một số định nghĩa về quyền con ngƣời do một số chuyên gia, cơ quan nghiên cứu từng nêu ra cũng không hoàn toàn giống nhau, nhƣng xét chung, quyền con ngƣời thƣờng đƣợc hiểu là những nhu cầu, lợi ích tự nhiên, vốn có và khách quan của con ngƣời đƣợc ghi nhận và bảo vệ trong pháp luật quốc gia và các thỏa thuận pháp lý quốc tế. Nhƣ vậy, xét ở góc độ nào và ở mức độ nào thì quyền con ngƣời cũng đƣợc xác định nhƣ là những chuẩn mực đƣợc cộng đồng quốc tế thừa nhận và tuân thủ. Những chuẩn mực này kết tinh những giá trị nhân văn của toàn nhân loại, áp dụng cho tất cả mọi ngƣời.
Nhờ có những chuẩn mực này, mọi thành viên trong gia đình nhân loại mới đƣợc bảo vệ nhân phẩm và mới có điều kiện phát triển đầy đủ các năng lực của cá nhân với tƣ cách là một con ngƣời. Cho dù cách nhìn nhận có những khác biệt nhất định, một điều rõ ràng là quyền con ngƣời là những giá trị cao cả cần đƣợc tôn trọng và bảo vệ trong mọi xã hội và trong mọi giai đoạn lịch sử. Tuy có nhiều định nghĩa khác nhau nhƣng ở góc độ nào, quyền con ngƣời cũng đƣợc xác định nhƣ một chuẩn mực, dựa trên hai bình diện chủ yếu là giá trị đạo đức và giá trị pháp luật. Dƣới bình diện đạo đức, quyền con ngƣời là giá trị xã hội cơ bản, vốn có (những đặc quyền) của con ngƣời nhƣ nhân phẩm, bình đẳng xã hội, tự do.
Dƣới bình diện pháp lý, để trở thành quyền, những đặc quyền phải đƣợc thể chế hóa, pháp điển hóa bằng các chế định pháp luật quốc tế và pháp luật quốc gia. Nhƣ vậy, dù ở góc độ nào hay cấp độ nào thì quyền con ngƣời cũng đƣợc xác định nhƣ là chuẩn mực đƣợc kết tinh từ những giá trị nhân văn của toàn nhân loại, áp dụng cho tất cả mọi ngƣời. Xuất phát từ quan điểm khoa học, coi con ngƣời là một thực thể sinh 9 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com vật- xã hội, chủ nghĩa Mác - Lênin đã xem quyền con ngƣời là sự thống nhất biện chứng giữa "quyền tự nhiên" (nhƣ một đặc quyền vốn có và chỉ có con ngƣời mới có) và "quyền xã hội"- tức là sự chế định bằng các quy chế pháp lý nhằm điều chỉnh các mối quan hệ xã hội, thể hiện sâu sắc các giá trị của các quan hệ xã hội và mang bản chất xã hội. Chủ nghĩa Mác- Lênin đã chỉ ra rằng khái niệm nhân quyền hay "quyền con ngƣời" là một phạm trù lịch sử.
Quyền con ngƣời không phải chỉ là các quyền mang tính tự nhiên mà luôn gắn với cuộc đấu tranh chống áp bức bóc lột, gắn với trình độ phát triển và tiến bộ xã hội trong từng thời kỳ. Quyền con ngƣời bao giờ cũng phụ thuộc vào phƣơng thức sản xuất, với quan hệ sản xuất thống trị quy định nên chế độ chính trị xã hội ấy. Quyền con ngƣời luôn mang tính giai cấp. Mác đã chỉ ra rằng, tự do của mỗi giai cấp là sự mất tự do của giai cấp đối lập.
Trong xã hội có đối kháng giai cấp không thể có sự bình đẳng, bình đẳng chỉ tồn tại trong nội bộ của giai cấp cùng quyền lợi. Nhƣ vậy, bản chất xã hội, bản chất giai cấp quy định nên bản chất của quyền con ngƣời. Quyền con ngƣời mang tính nhân loại sâu sắc. Bởi vì nó là kết quả của cuộc đấu tranh của toàn thể nhân dân lao động nhằm đập tan ách thống trị trên toàn thế giới giành lại quyền tự do chân chính cho mình, là giá trị nhân văn cao quý nhất mà xã hội loài ngƣời hƣớng tới, là sự giải phóng hoàn toàn cá nhân con ngƣời để phát triển toàn diện nhân cách của mình.
Ngày nay, vấn đề quyền con ngƣời gắn rất chặt với các quyền dân tộc cơ bản và thuộc phạm vi chủ quyền quốc gia vì nó là một bộ phận của quá trình phát triển nội tại của từng nƣớc. Trải qua lịch sử hàng nghìn năm dựng nƣớc và giữ nƣớc, nhân dân Việt Nam đã phải đổ biết bao xƣơng máu để giành lấy những quyền cơ bản của con ngƣời- đƣợc sống trong điều kiện độc lập, tự do, có cơm ăn, áo mặc, nhà ở, đƣợc học hành, nhân phẩm đƣợc tôn trọng. Nhà nƣớc Việt Nam khẳng định con ngƣời là trung tâm của các chính 10 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com sách kinh tế xã hội, thúc đẩy và bảo vệ quyền con ngƣời là nhân tố quan trọng cho sự phát triển bền vững, bảo đảm thắng lợi sự nghiệp công nghiệp hóa và hiện đại hóa đất nƣớc. Trong một thế giới ngày càng đa dạng, khi tiếp cận và xử lý vấn đề quyền con ngƣời cần kết hợp hài hòa các chuẩn mực, nguyên tắc chung của luật pháp quốc tế với những điều kiện đặc thù về lịch sử, chính trị, kinh tế- xã hội, các giá trị văn hóa, tôn giáo, tín ngƣỡng, phong tục tập quán của mỗi quốc gia và khu vực để bảo đảm cho ngƣời dân đƣợc hƣởng thụ quyền con ngƣời một cách tốt nhất.
Việc bảo đảm và thúc đẩy quyển con ngƣời trƣớc hết là trách nhiệm và quyền hạn của mỗi quốc gia. Không một nƣớc nào có quyền áp đặt mô hình chính trị, kinh tế, văn hóa của mình cho một quốc gia khác. Đặc điểm quyền con người Nhân quyền là thành quả đấu tranh chung của nhân loại nhƣng nhân quyền cũng mang tính đặc thù với bản sắc riêng, phù hợp với trình độ phát triển kinh tế- xã hội, mang sắc thái văn hóa, lịch sử và truyền thống của mỗi quốc gia. Tuyên bố Viên và Chƣơng trình hành động (1993) đã viết: Tất cả các quyền con ngƣời đều mang tính phổ cập, không thể chia cắt, phụ thuộc lẫn nhau và liên quan đến nhau.
Trong khi phải luôn ghi nhớ ý nghĩa của tính đặc thù dân tộc, khu vực và bối cảnh khác nhau về lịch sử, văn hóa và tôn giáo, các quốc gia không phân biệt hệ thống chính trị, kinh tế, văn hóa, có nghĩa vụ đề cao và bảo vệ tất cả các quyền con ngƣời và các tự do cơ bản. Theo nhận thức chung, quyền con ngƣời có các đặc trƣng cơ bản là: Tính phổ biến, tính không thể chuyển nhƣợng, tính không thể phân chia, tính liên hệ và phụ thuộc lẫn nhau [15], cụ thể nhƣ sau: - Tính phổ biến (universal): Thể hiện ở chỗ quyền con ngƣời là những gì bẩm sinh, vốn có của con ngƣời và đƣợc áp dụng bình đẳng cho tất cả mọi 11 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com thành viên trong gia đình nhân loại, không có sự phân biệt đối xử vì bất cứ lý do gì, chẳng hạn nhƣ về chủng tộc, dân tộc, giới tính, tôn giáo, độ tuổi, thành phần xuất thân. Con ngƣời, dù ở trong những chế độ xã hội riêng biệt, thuộc những truyền thống văn hóa khác nhau vẫn đƣợc công nhận là con ngƣời và đƣợc hƣởng những quyền và sự tự do cơ bản. - Tính không thể chuyển nhƣợng (inalienable): Trong quan niệm chung của cộng đồng quốc tế, quyền con ngƣời không thể tùy tiện bị tƣớc bỏ hay hạn chế một cách tùy tiện bởi bất cứ chủ thể nào, kể cả các cơ quan và quan chức nhà nƣớc.
Tuy nhiên, trong một số trƣờng hợp nhất định đƣợc pháp luật quy định trƣớc, chỉ có những chủ thể đặc biệt mới có thể hạn chế quyền con ngƣời. - Tính không thể phân chia (indivisible): Thể hiện ở chỗ các quyền con ngƣời đều có tầm quan trọng nhƣ nhau, về nguyên tắc không có quyền nào đƣợc coi là có giá trị cao hơn quyền nào. Việc tƣớc bỏ hay hạn chế bất kỳ quyền con ngƣời nào đều tác động tiêu cực đến nhân phẩm, giá trị và sự phát triển của con ngƣời. Quyền con ngƣời đƣợc cấu thành bởi nhiều quyền, nhiều yếu tố xoay quanh những giá trị cao quý của con ngƣời.
Tất cả các yếu tố, tất cả các quyền đều có giá trị nhƣ nhau, không phân biệt. Mọi khía cạnh về quyền con ngƣời đều đƣợc bảo vệ nhƣ nhau trong bất kỳ hoàn cảnh nào. - Tính liên hệ và phụ thuộc lẫn nhau (interrelated, interdependent): Thể hiện ở chỗ việc bảo đảm các quyền con ngƣời, toàn bộ hoặc một phần, nằm trong mối liên hệ phụ thuộc và tác động lẫn nhau. Sự vi phạm một quyền sẽ trực tiếp hoặc gián tiếp gây ảnh hƣởng tiêu cực đến việc bảo đảm các quyền khác, và ngƣợc lại, tiến bộ trong việc bảo đảm một quyền sẽ trực tiếp hoặc gián tiếp tác động tích cực đến việc bảo đảm các quyền khác.