CHƯƠNG 1. HOÀN CẢNH KINH TẾ - XÃ HỘI VÀ TIỀN ĐỀ TƯ TƯỞNG CHO SỰ RA ĐỜI QUAN NIỆM VỀ QUYỀN CON NGƯỜI TRONG TRIẾT HỌC TÂY ÂU THẾ KỈ XVII - XVIII 1. Hoàn cảnh kinh tế - xã hội Tây Âu thời kỳ cận đại Vào cuối thời trung đại, trong lòng xã hội phong kiến ở Tây Âu đã xuất hiện những mầm mống của phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa và diễn ra nhiều biến đổi trong các lĩnh vực của đời sống xã hội. Về mặt kinh tế: Vào thế kỉ XV - XVI, con đường giao lưu buôn bán của thương nhân châu Âu qua Tây Á và Địa Trung Hải bị người Ả Rập chiếm giữ.
Do nhu cầu về kinh tế, việc tìm con đường mới đến phương Đông, đặc biệt là sang Ấn Độ - nơi có nhiều vàng bạc, hương liệu quý ngày càng trở nên cấp thiết. Đó là nguyên nhân khiến cho nhiều nước Tây Âu, mà Tây Ban Nha và Bồ Đào Nha là những nước đi tiên phong, đã tiến hành những cuộc phát kiến địa lí. Đáng chú ý nhất là các cuộc phát kiến địa lý của Vasco da Gama (1497), Christophe Colomb (1492), Ferdinand Magellan (1519). Nguyên nhân sâu xa dẫn đến các phát kiến địa lí chính là sự phát triển của kinh tế Tây Âu thời điểm cuối thế kỉ XV - đầu thế kỉ XVI.
Các cuộc phát kiến địa lí được xem như một cuộc cách mạng thực sự trong lĩnh vực giao thông và tri thức. Một thành quả đặc biệt quan trọng của các phát kiến địa lí là đem về cho châu Âu, cho giai cấp tư sản nguồn hương liệu, vàng bạc, đá quý dồi dào với khối lượng lớn, tạo thành một cơ sở quan trọng cho quá trình tích lũy tư bản nguyên thủy: “Năm 1503, chuyến tàu đầu tiên chở kim loại đến từ Antilles; năm 1519, bắt đầu cuộc cướp kho báu của người Azteques ở Mêhicô; năm 1534, cướp kho báu của người Incas ở Pêru. Tại Pêru: những kẻ chinh phục nhìn thấy 1300000 onces vàng chất thành đống. Họ tìm thấy bốn pho tượng 9 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com lama (lạc đà không bướu) lớn và khoảng mười hai pho tượng phụ nữ bằng vàng to như người thật” [2, tr.
Các cuộc phát kiến địa lí đã mở đường cho thương nghiệp châu Âu phát triển, làm cho thành thị ở khu vực này trở nên phồn thịnh hơn. Không gian buôn bán của thương nhân châu Âu giờ đây không bị bó hẹp trong phạm vi nhỏ hẹp trước đó mà có quan hệ chặt chẽ với các lục địa khác. Những cuộc phát kiến địa lí thời hậu kỳ trung đại gắn liền với quá trình cướp bóc thuộc địa, cướp biển, đã đem lại cho châu Âu một nguồn vốn lớn và chỉ trong một thời gian ngắn, nhiều tư sản Tây Âu đã tích lũy cho mình một khối lượng tư bản đáng kể: “Theo tài liệu nghiên cứu của nhà nghiên cứu người Pháp Michel Beaud thì chỉ trong khoảng hơn một thế kỉ (1521 - 1660) có tới 18000 tấn bạc và 200 tấn vàng được chuyển từ Mỹ sang Tây Ban Nha; theo số liệu thống kê của nhà sử học Detbero, thì trong quãng thời gian từ năm 1493 đến những năm đầu thế kỉ XVI, lượng vàng tích lũy ở Châu Âu tăng từ 55000 kg lên 1192000kg, bạc từ 7 triệu lên 21 triệu kg” [Dẫn theo 31, tr. Rất nhiều vàng, bạc cướp bóc ở châu Mỹ được chở về châu Âu làm cho giá cả hàng hóa tăng lên gấp 4 - 5 lần.
Giá cả tăng vọt là động lực thúc đẩy nền sản xuất ở các nước Tây Âu, đặc biệt là Hà Lan và Anh, làm cho năng suất lao động không ngừng tăng lên. Thế kỉ XVI - XVIII, ở Tây Âu, nhiều công trường thủ công tư bản chủ nghĩa được xây dựng thay cho phường hội trước kia, hình thức tổ chức sản xuất mới tiến hành theo dây chuyền xuất hiện. Những công trường này thường được dựng lên ở các thành thị ven biển, và không chịu tác động của các quy chế phường hội. Năng suất lao động tăng lên rất nhiều, số lượng sản phẩm làm ra nhiều, với tốc độ nhanh, giá thành hạ.
Do đó, các chủ xưởng thu được nhiều lợi nhuận hơn. Nhiều trung tâm công nghiệp được hình thành. 10 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Thời kỳ này được K.Engel nhận xét như sau: “Giờ đây lần đầu tiên người ta đã thật sự phát hiện ra trái đất và đặt nền móng cho buôn bán quốc tế sau này và… đại công nghiệp hiện đại” [37, tr. Nói cách khác, thời kỳ này đã có cơ sở để khẳng định và đề cao vai trò của con người trong sản xuất.
Đây chính là cơ sở thực tiễn cho việc hình thành quan niệm về con người và quyền con người trong thế kỉ XVII - XVIII ở Tây Âu. Mặt khác, nền sản xuất hàng hóa cũng tạo cơ sở cho con người ý thức được mối quan hệ giữa con người với con người ngày càng trở nên mật thiết hơn. Ở Hà Lan, từ đầu thế kỉ XVI nền kinh tế công nghiệp và mậu dịch hàng hải đã phát triển sầm uất và thịnh vượng vào bậc nhất châu Âu. Vốn cần cù và tháo vát, ba triệu dân sống ở dải đất ven biển Đại Tây Dương này đã xây dựng được 60 thành phố và hải cảng.
Nổi bật nhất là Amsterdam và Antwerpen - những trung tâm thương mại và hàng hải quốc tế. Một trong những ngành công nghiệp phát triển nhất của Hà Lan là ngành đóng tàu biển, có khả năng đóng được những con tàu vượt đại dương, với trọng tải lớn. Ngành dệt len dạ và nhuộm cũng rất nổi tiếng. Trong hầu hết các ngành sản xuất đều xuất hiện công trường thủ công tư bản chủ nghĩa, có công trường thủ công đã thuê tới hàng trăm công nhân.
Ở Anh, thế kỉ XVII, công thương nghiệp tư bản chủ nghĩa ngày một khởi sắc. Bắt đầu từ cuối thế kỉ XV, ngành công nghiệp dệt len, dạ phát triển mạnh nhất; bởi lẽ đây là ngành truyền thống. Từ thế kỉ XVI, ngành dệt len dạ đã mang tính chất tư bản chủ nghĩa. Đến thế kỉ XVII, cả nước Anh đều dệt len, dạ.
Len, dạ của Anh sản xuất ngày một tăng, không những cung cấp cho nhu cầu trong nước, mà còn xuất khẩu sang Hà Lan, Đức, Ý. Một số ngành công nghiệp mới như đóng tàu, làm thủy tinh, giấy, luyện sắt, khai thác khoáng sản cũng phát triển khá mạnh, nhất là ngành khai thác than đá. Đến giữa thế kỉ XVII, Anh đã chiếm tới 4/5 sản lượng than đá sản xuất của châu 11 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail. Tuy ngành công nghiệp sắt còn dùng kỹ thuật thủ công, song trong công trường thủ công luyện sắt đã có sự phân công lao động.
Đầu thế kỉ XVII, Anh có 800 lò luyện sắt, với trung tâm lớn nhất là khu rừng Đin. Thế kỉ XVII - XVIII, khu vực bờ biển Đại Tây Dương cực kì sầm uất, nó đã trở thành trung tâm thương mại của châu Âu thay thế cho Địa Trung Hải trước đây. Nhu cầu vốn và thị trường rộng lớn để đáp ứng cho sự phát triển nhanh của nền kinh tế được đặt ra. Hơn nữa, do có nhiều vàng bạc cướp bóc được ở Châu Mĩ nên nhu cầu tiêu thụ hàng hóa xa xỉ của quý tộc châu Âu ngày càng gia tăng.
Thời điểm này, các loại gia vị của phương Đông, vốn là thứ xa xỉ lâu năm ở đây, nay trở nên cực kỳ đắt đỏ do khan hiếm, đặc biệt là hồ tiêu - một loại hương liệu rất được ưa thích ở Tây Âu, trong thời điểm này có giá trị ngang với vàng. Chính vì thế, mục tiêu hướng ra thị trường bên ngoài được thương nhân Tây Âu đặt lên hàng đầu. Trong nông nghiệp, sự xâm nhập của nền kinh tế hàng hóa tiền tệ vào nông thôn đã làm thay đổi hình thức bóc lột của địa chủ phong kiến đối với nông dân: địa tô hiện vật, rồi địa tô tiền dần thay thế cho địa tô lao dịch. Trước sự phát triển của phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa, hình thức sản xuất nhỏ của nông dân đã bị loại bỏ nhanh chóng, vì không đáp ứng kịp thời nhu cầu hàng hóa của thị trường.
Trong khi sản xuất của những đồn điền hay trang trại với quy mô lớn xuất hiện, ngày càng gắn bó chặt chẽ với thị trường. Sự phát triển của phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa trong nông nghiệp Tây Âu thế kỉ XVII - XVIII diễn ra điển hình ở Anh. Nước Anh, trong giai đoạn thế kỉ XVII - XVIII, quan hệ sản xuất tư bản chủ nghĩa xâm nhập mạnh mẽ vào nông nghiệp. Bắt đầu từ cuối thế kỉ XV - đầu thế kỉ XVI, do thương nghiệp và sản xuất len dạ ở nước Anh phát triển nhanh chóng, nhu cầu 12 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com về lông cừu ngày một lớn, giá tăng vọt.
Để thu được nhiều lợi, các lãnh chúa phong kiến chiếm đoạt ruộng đất của công xã, đuổi tá điền ra khỏi ruộng đất mà họ đang canh tác để lập các đồng cỏ. Hàng vạn gia đình nông dân mất ruộng đất trở thành những người không có nhà cửa, không tài sản, phiêu bạt khắp nơi. Thảm cảnh của nông dân đã được triết gia Thomas More miêu tả lại khá trung thực khi dùng hình ảnh “cừu ăn thịt người”. Từ đầu thế kỉ XVII, một yếu tố khiến quý tộc địa chủ đẩy mạnh việc xua đuổi nông dân ra khỏi ruộng đất là do quá trình tăng nhanh dân số thành thị đã kéo theo sự tăng vọt nhu cầu về lương thực, thực phẩm.
Nhiều chủ đất nhận thấy rằng, nếu tập trung đất đai thành mảnh lớn và canh tác theo phương pháp mới (sử dụng phân bón, giống mới, sử dụng nhân công tự do, trồng các loại cây mà thị trường có nhu cầu cao,…) thì sẽ thu lợi nhuận lớn hơn so với số địa tô thu được từ nông dân lĩnh canh. Ngoài việc đẩy mạnh hoạt động “rào ruộng cướp đất”, nhiều quý tộc còn đem đất đai của mình cho nhà tư bản thuê, hình thành kiểu kinh doanh tay ba (Quý tộc mới - Tư sản nông nghiệp - Công nhân nông nghiệp). Từ sau các phát kiến địa lí, ven bờ Đại Tây Dương trở thành nơi xuất phát của những trục đường hàng hải mới. Bên cạnh các trục đường thương mại ở châu Âu có từ các thế kỉ trước, do nhu cầu vận chuyển hàng hóa qua lại hai chiều giữa châu Âu - Tân lục địa, châu Âu - phương Đông đã làm hình thành hai trục đường hàng hải mới sau phát kiến.
Trục thứ nhất, từ bờ biển Tây Âu qua Đại Tây Dương tới vùng biển phía Đông Tân lục địa.