Chương 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ QUYỀN CỦA NGƢỜI BỊ TẠM GIỮ, TẠM GIAM VÀ THI HÀNH HÌNH PHẠT TÙ 1. Khái niệm quyền con ngƣời của ngƣời bị tạm giữ, tạm giam và thi hành hình phạt tù 1. Người bị tạm giữ, tạm giam và thi hành hình phạt tù Người bị tạm giữ, tạm giam và thi hành hình phạt tù là những người bị hạn chế, tước bỏ quyền tự do vĩnh viễn (chung thân) hoặc trong một khoảng thời gian nhất định (tù có thời hạn, tạm giữ, tạm giam) trên cơ sở và trong khuôn khổ của pháp luật quốc tế hoặc quốc gia. Mặc dù bị áp dụng biện pháp cưỡng chế hình sự, nhưng những người này vẫn được tôn trọng và bảo đảm quyền con người theo qui định của pháp luật.
Tuyên ngôn quốc tế về Nhân quyền - 1948 Tại Điều 9 ghi nhận: “Không ai bị bắt, giam giữ hay lưu đày một cách tùy tiện” [8, tr. Giải thích và cụ thể hóa nguyên tắc này, Điều 9 Công ước quốc tế về các quyền Dân sự và Chính trị quy định: “Mọi người có quyền tự do và an toàn cá nhân. Không ai bị bắt hoặc bị giam giữ vô cớ. Không ai bị tước quyền tự do trừ trường hợp việc tước quyền đố là có lý do và theo đúng thủ tục luật pháp đã quy định” [8, tr.
Như vậy, theo qui định của luật nhân quyền quốc tế thì “Mọi người có quyền tự do và an toàn cá nhân”, họ không bị bắt giữ, bỏ tù một cách tùy tiện, mà không theo qui định của pháp luật. Bình luận về nội dung này “Nghiên cứu về quyền của mỗi người được bảo vệ khỏi hành vi bắt, giam giữ hay lưu đày một cách tùy tiện” - Ấn phẩm của Liên hợp quốc số 65.2 - 1965, đã đưa cách giải thích về “sự tùy tiện” như sau: “Việc bắt hay giam giữ được xem là tùy tiện nếu trên cơ sở hay theo thủ tục không được quy định trong pháp luật, hay theo quy định của pháp luật thì mục đích của việc bắt và giam giữ này là không phù hợp với việc tôn trọng tự do và an ninh cá nhân” [8, tr. 12 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Trong pháp luật quốc tế người bị tạm giữ, tạm giam hay người chấp hành hình phạt tù thường được gọi chung với một khái niệm chỉ người bị bắt, người bị giam, giữ. Đối với người bị tạm giữ, tạm giam thi Quy chế về tạm giữ, tạm giam ban hành kèm theo Nghị định số 89/1998/NĐ-CP ngày 07 tháng 11 năm 1998 của Chính phủ định nghĩa về người bị tạm giữ, tạm giam như sau: 1.
Người bị tạm giữ là người bị bắt trong trường hợp khẩn cấp hoặc phạm tội quả tang và đối với họ đã có Lệnh tạm giữ. Người bị tạm giam là bị can, bị cáo, người bị kết án tù hoặc tử hình bị bắt để tạm giam và đối với họ đã có Lệnh tạm giam [4, Điều 2]. Ngoài ra người bị bắt theo lệnh truy nã, người phạm tội đầu thú, tự thú khi bị bắt và có lệnh tạm giữ thì cũng được gọi là người bị tạm giữ. Theo pháp luật Việt Nam thì tạm giữ là một hoạt động trong tố tụng hình sự liên quan trực tiếp đến lợi ích của các công dân, quyền tự do thân thể, đây là chế tài hạn chế một số quyền cơ bản của con người nên cần rất thận trọng khi thực hiện biện pháp chế tài này.
Để tránh việc lạm dụng bắt người trái pháp luật hay không có căn cứ cũng như đảm bảo tính mạng, tài sản, danh dự, nhân phẩm và những quyền khác của công dân chưa bị pháp luật tước bỏ Bộ luật tố tụng hình sự quy định rất chặt, chẽ và nghiêm ngặt đối với những trường hợp bị tạm giữ. Việc tạm giữ chỉ là biện pháp ngăn chặn thật cần thiết để ngăn chặn tội phạm xảy ra cũng như đảm bảo cho việc điều tra, truy tố, xét xử được đảm bảo đúng pháp luật, trật tự xã hội tránh oan, sai. Thẩm quyền tạm giữ theo Điều 81 BLTTHS gồm cơ quan điều tra, bộ đội biên phòng, kiểm lâm và một số cá nhân, cơ quan khác. Những trường hợp bị tạm giữ bao gồm: phạm tội quả tang, bị bắt khẩn cấp, bị truy nã, đầu thú hoặc tự thú.
Người bị tạm giữ hình sự là người bị áp dụng biện pháp ngăn chặn ngay tức khắc trong thời gian ngắn (tối đa là 9 ngày) được quy định trong Bộ 13 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com luật tố tụng hình sự được cơ quan Nhà nước có thẩm quyền tiến hành do nghi ngờ người đó thức hiện tội phạm (chưa khởi tố) hoặc dã bị khởi tố mà đang bỏ trốn (truy nã) nhằm ngăn chặn hành vi vi phạm pháp luật hình sự, bảo đảm cho việc điều tra, truy tố, xét xử. Tóm lại người bị tạm giữ là người bị hạn chế quyền tự do trong một khoảng thời gian nhất định do bị bắt trong trường hợp phạm tội quả tang, khẩn cấp, truy nã, đầu thú hoặc tự thú.… Một người chỉ bị tạm giam sau khi đã bị khởi tố về mặt hình sự mà cụ thể là khởi tố bị can của cơ quan điều tra và được Viện kiểm sát phê chuẩn, có hiệu lực pháp luật. Biện pháp tạm giam thường được áp dụng rất hạn chế vì đây là một trong những biện pháp liên quan tới tự do thân thể của con người trong thời gian dài. Theo quy định của Điều 120 BLTTHS Việt Nam thì cơ quan điều tra có thể ra lệnh tạm giam ít nhất là 2 tháng (đối với tội ít nghiêm trọng) và tối đa là tới 16 tháng (đối với loại tội đặc biệt nghiêm trọng).
Ngoài ra còn phải kể đến thời gian tạm giam để truy tố, tạm giam để chờ xét xử, tạm giam trong khi chờ bản án có hiệu lực và đưa đi chấp hành án. Điều 88 BLTTHS quy định tạm giam có thể được áp dụng đối với bị can, bị cáo trong những trường hợp: - Phạm tội đặc biệt nghiêm trọng; phạm tội rất nghiêm trọng; - Phạm tội nghiêm trọng, phạm tội ít nghiêm trọng mà Bộ luật hình sự quy định hình phạt tù trên hai năm và có căn cứ cho rằng người đó có thể trốn hoặc cản trở việc điều tra, truy tố, xét xử hoặc có thể tiếp tục phạm tội. Trường hợp là phụ nữ có thai hoặc đang nuôi con dưới ba mươi sáu tháng tuổi, là người già yếu, người bị bệnh nặng mà nơi cư trú rõ ràng thì không tạm giam mà áp dụng biện pháp ngăn chặn khác (thông thường là biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú), trừ những trường hợp: 14 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com - Bỏ trốn và bị bắt theo lệnh truy nã; - Đã được áp dụng biện pháp ngăn chặn khác nhưng tiếp tục phạm tội hoặc cố ý gây cản trở nghiêm trọng đến việc điều tra, truy tố, xét xử; - Phạm tội xâm phạm an ninh quốc gia và có đủ căn cứ cho rằng nếu không tạm giam đối với họ thì sẽ gây nguy hại đến an ninh quốc gia [19, tr. Như vậy người bị tạm giam là người đã bị khởi tố và áp dụng biện pháp ngăn chặn cách ly khỏi xã hội trong thời gian dài, được quy định trong Bộ luật tố tụng hình sự do cơ quan Nhà nước có thẩm quyền tiến hành nhằm ngăn chặn hành vi vi phạm pháp luật hình sự, bảo đảm cho việc điều tra, truy tố, xét xử.
Sau khi bị xét xử bằng một bản án có hiệu lực pháp lý bị cáo được tuyên là có tội và phải chịu một hình phạt tương xứng được quy định trong Bộ luật hình sự. Có rất nhiều hình phạt được quy định trong Bộ luật hình sự của nước CHXHCN Việt Nam. Có hình phạt vừa được xem là hình phạt chính, vừa được coi là hình phạt bổ sung nhưng phạt tù giam luôn là hình phạt chính và là hình phạt đặc trưng, có tính cơ bản trong Bộ luật hình sự. Các bị cáo bị tuyên hình phạt tù giam sẽ được chuyển đến nơi giam (trại giam, trại tạm giam, nhà tạm giữ cấp huyện) để thi hành án phạt tù và họ được gọi là phạm nhân.
Người thi hành án phạt tù hay còn gọi là phạm nhân là người bị kết tội và phải chịu hình phạt tù giam theo bản án mà tòa án tuyên đã có hiệu lực pháp luật và phải chịu sự quản lý giam giữ, giáo dục, cải tạo của cơ quan Nhà nước có thẩm quyền để họ trở thành người có ích cho xã hội. Cơ sở hình thành và phát triển quyền con người của người bị tạm giữ, tạm giam và chấp hành hình phạt tù Con người là tổng hòa các mối quan hệ do vậy phần lớn người phạm tội chỉ có thể bị tước bỏ hoặc hạn chế một số quyền chứ không phải là tất cả 15 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Người bị tạm giữ, tạm giam hay đang chấp hành hình phạt tù về bản chất họ vẫn là con người với các mối quan hệ với môi trường xung quanh. Họ có người thân, có nhu cầu sinh hoạt như những người khác, có những bản năng vốn có của con người. do vậy trước hết họ phải được đối xử như giữa con người với con người, đây chính là biểu hiện rõ nét nhất sự phát triển của xã hội loài người.
Người bị tạm giữ hay người bị tạm giam trước hết họ phải được coi là người bình thường mà không phải là tội phạm vì chưa có bản án có hiệu lực của tòa án. Họ là những người đang trong giai đoạn tố tụng với sự nghi ngờ của các cơ quan quan tố tụng. Các biện pháp ngăn chặn đó chỉ là nhằm đảm bảo cho điều tra, truy tố, xét xử hiệu quả hơn chứ không phải là nhằm mục đích giáo dục hay trừng phạt đói với người phạm tội. Do vậy pháp luật hình sự cũng chỉ quy định một số hạn chế đối với họ ví dụ như quyền bầu cử, ứng cử, quyền tự do đi lại… chứ về các nhu cầu sinh hoạt của con người vẫn phải đảm bảo cho họ.
Đối với người đang chấp hành hình phạt tù họ bị coi là tội phạm và bị áp dụng các chế tài có tính chất nghiêm khắc hơn. Họ có thể phải lao động hoặc chấp hành một số quy định khắt khe của tù nhân. Các quyền của họ đôi khi bị hạn chế hơn nhưng các quyền cơ bản nhất để họ tồn tại đúng nghĩa là một con người thì không thể bị tước bỏ.