Chương 1 TỔNG QUAN PHÁP LUẬT VỀ QUYỀN BÌNH ĐẲNG TRONG LĨNH VỰC VIỆC LÀ M 1. KHÁI NIỆM VỀ QUYỀN BÌNH ĐẲNG TRONG LĨNH VỰC VIỆC LÀM 1. Khái niệm quyền viêc̣ làm Trong các văn kiện quốc tế về nhân quyền thì quyền làm việc cũng như các quyền khác của con người là một giá trị nhân loại được ghi nhận trong Tuyên bố chung về quyền con người do Liên hợp quốc thông qua ngày 10/12/1948:” Mọi người sinh ra đều có quyền tự do bình đẳng về nhân phẩm và các quyền. Mọi người đều được tạo hóa ban cho lý trí và lương tâm và cần phải đối xử với nhau bằng tình anh em” (Điều 1).
Ngoài ra tại điều 25 của Tuyên ngôn quốc tế về quyền con người còn quy định rõ:”Mọi người đều có quyền được hưởng một mức sống thích đáng, đủ để đảm bảo sức khỏe và phúc lợi của bản thân và gia đình, về các phương diện ăn, mặc, ở, chăm sóc y tế và các dịch vụ xã hội cần thiết cũng như có quyền được bảo trợ trong trường hợp thất nghiệp, đau ốm, tàn phế, góa bụa, già nua hoặc thiếu phương tiện sinh sống xuất phát từ những hoàn cảnh khách quan mà vượt quá khả năng đối phó của họ”. Quyền làm việc còn là một trong những quyền về kinh tế, xã hội. Cụ thể hóa các quyền về việc làm trong Tuyên ngôn quốc tế về quyền con người (1948), Công ước về các quyền kinh tế xã hội và văn hóa do Liên hợp quốc thông qua ngày 16/12/1966, tại khoản 1, điều 6 quy định: „ Các quốc gia thành viên Công ước thừa nhận quyền làm việc, trong đó bao gồm các quyền của tất cả mọi người có cơ hội kiếm sống bằng công việc do họ tự do lựa chọn hoặc chấp nhận, và các quốc gia phải 8 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com thi hành các biện pháp thích hợp để đảm bảo quyền này”. Tại khoản 2 điều này quy định các quốc gia thành viên thừa nhận rằng:‟ Phải tiến hành các biện pháp để thực hiện đầy đủ quyền này, bao gồm triển khai các chương trình đào tạo kỹ thuật và hướng nghiệp, các chính sách và biện pháp kỹ thuật nhằm đảm bảo sự phát triển vững chắc về kinh tế, xã hội và văn hóa, tạo công ăn, việc làm đầy đủ và hữu ích với điều kiện đảm bảo các quyền tự do cơ bản về chính trị và kinh tế của từng cá nhân”.
Như vậy có thể thấy tất cả mọi người đều có quyền làm việc, quyền có cơ hội kiếm sống bằng công việc do chính bản thân họ tự chọn và chấp thuận. Quyền làm việc đối với mỗi người là một nhu cầu của cuộc sống để sinh tồn phát triển và hoàn thiện mình. Ngoài ra, tại điều 7 Công ước quốc tế về các quyền kinh tế, xã hội, văn hóa khẳng định quyền của mọi người được hưởng những điều kiện làm việc công bằng và thuận lợi, đặc biệt là được đảm bảo: a) Thù lao cho tẩ cả mọi người làm công tối thiểu phải đảm bảo thỏa đáng và công bằng, đảm bảo cuộc sống tương đối đầy đủ cho họ và gia đình họ; b) Những điều kiện làm việc an toàn và lành mạnh; c) Cơ hội ngang nhau cho mọi người trong việc được đề bạt lên chức vụ thích hợp cao hơn, chỉ cần xét tới thâm niên và năng lực làm việc; d) Sự nghỉ ngơi, thời gian rảnh rỗi, giới hạn hợp lý số giờ làm việc, những ngày nghỉ thường kỳ được hưởng lương cũng như thù lao cho các ngày nghỉ lễ. [50] Quyền bình đẳng về việc làm, bao gồm quyền làm việc và quyền tự do việc làm là một trong các quyền con người được ghi nhận trong Tuyên ngôn nhân quyền thế giới.
Quyền làm việc theo nội dung các văn kiện của Liên hợp quốc rất đa dạng và phong phú. Việc làm không những tạo ra thu nhập giúp người lao động nuôi sống bản thân và gia đình mà còn góp phần phát triển xã hội và nhân cách. Chính vì thế, bất cứ một 9 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com sự phân biệt đối xử nào trong việc tiếp cận và duy trì công việc đều bị nghiêm trị. Tự do việc làm và lựa chọn việc làm chốg lại lao động cưỡng bức đã trở thành mối quan tâm của thời đại.
Các quốc gia thành viên có nghĩa vụ tôn trọng quyền làm việc, quyền tự do lựa chọn việc làm, có nghĩa phải đưa ra các biện pháp pháp lý nhằm thực hiện quyền này một cách đầy đủ và hiệu quả. „Chính vì vậy trong luật lao động quốc tế, tự do làm việc và tự do lựa chọn việc làm, chống lại lao động cưỡng bức hoặc bắt buộc đã trở thành một trong bốn vấn đề cơ bản nhất hiện nay” [49]. “Quyền việc làm là một trong những quyền cơ bản của con người và việc bảo đảm quyền lao động cho công dân là một trong những tiêu chí đánh giá sự tiến bộ của chế độ xã hội. Nhà nước và xã hội có kế hoạch ngày càng tạo nhiều việc làm cho người lao động”[18].
Công dân có sức lao động phải được làm việc để duy trì sự tồn tại của bản thân và góp phần xây dựng xã hội, thực hiện các nghĩa vụ của họ đối với những người xung quanh trong cộng đồng. Do đó, hơn bao giờ hết, quyền việc làm có vai trò hết sức quan trọng và việc tìm hiểu về quyền việc làm có ý nghĩa cả trong lí luận và thực tiễn. Việc làm trước hết là vấn đề của mỗi cá nhân, xuất phát từ nhu cầu mưu sinh của cá nhân. Con người vì muốn thỏa mãn các nhu cầu của bản thân nên tiến hành các hoạt động lao động nhất định.
Người có việc làm chính là những người hiện đang tham gia các hoạt động đó. Tuy nhiên, con người không sống đơn lẻ và hoạt động lao động của mỗi cá nhân cũng không đơn lẻ mà nằm trong tổng thể các hoạt động của sản xuất xã hội. Do đó, bên cạnh ý nghĩa là vấn đề cá nhân, việc làm còn là vấn đề của cộng đồng, của xã hội. Điều này đòi hỏi phải có những chính sách và biện pháp nhất định từ phù hợp từ phía nhà nước nhằm tăng số lượng việc làm và chất lượng việc làm, đảm bảo đời sống dân cư, kiềm chế nạn thất nghiệp và thông qua đó để giải quyết các vấn đề cửa quốc gia.
10 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Ở Việt Nam, trong nền kinh tế thị trường, quan niệm về việc làm và các vấn đề liên quan như thất nghiệp, chính sách việc làm đã có những thay đổi căn bản. Cùng với việc tiếp thu có chọn lọc kinh nghiệm quốc tế vào hoàn cảnh Việt Nam, BLLĐ đã định nghĩa “việc làm là hoạt động lao động tạo ra thu nhập mà không bị pháp luật cấm”[1]. Hiến pháp năm 1992 và điều 35 của Hiến pháp 2013 quy định: 1. Công dân có quyền làm việc, lựa chọn nghề nghiệp, việc làm và nơi làm việc; 2.
Người làm công ăn lương được bảo đảm các điều kiện làm việc công bằng , an toàn; được hưởng lương , chế đô ̣ nghỉ ngơi; 3. Nghiêm cấm phân biệt đối xử, cưỡng bức lao động, sử dụng nhân công dưới độ tuổi lao động tối thiểu.[18] Cụ thể hóa quyền lao động của công dân, Nhà nước đã ban hành BLLĐ trong đó khẳng định rõ: Mọi người đều có quyền làm việc, tự do lựa chọn việc làm và nghề nghiệp, học nghề và nâng cao trình độ nghề nghiệp, không bị phân biệt đối xử về giới tính, dân tộc, thành phần xã hội, tín ngưỡng, tôn giáo. Mọi hoạt động tạo ra việc làm, tự tạo việc làm, dạy nghề và học nghề để có việc làm, mọi hoạt động sản xuất, kinh doanh thu hút nhiều lao động đều được Nhà nước khuyến khích, tạo điều kiện thuận lợi hoặc giúp đỡ. Người lao động có quyền làm việc cho bất kỳ người sử dụng lao động nào và ở bất kỳ nơi nào mà pháp luật không cấm.
Người cần tìm việc làm có quyền trực tiếp liên hệ để tìm việc hoặc đăng ký tại các tổ chức giới thiệu việc làm để tìm việc tuỳ theo nguyện vọng, khả năng, trình độ nghề nghiệp và sức khoẻ của mình. Mọi người có quyền tự do lựa chọn nghề và nơi học nghề phù hợp với nhu cầu việc làm của mình. Người sử dụng lao động có quyền trực tiếp hoặc thông qua các tổ chức giới thiệu việc làm để tuyển chọn lao động, có quyền tăng giảm lao động phù hợp với nhu cầu sản xuất, kinh doanh theo quy định của pháp luật. 11 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Bên cạnh việc ban hành BLLĐ cụ thể hóa quyền lao động, quyền có việc làm của công dân, bảo đảm cho công dân thực hiện tốt quyền của mình theo quy định của Hiến pháp, Nhà nước ta còn ban hành nhiều luật để tạo môi trường pháp lý thuận lợi cho việc thực hiện quyền lao động của công dân như: Luật Doanh nghiệp, Luật đầu tư, Bộ luật dân sự; Luật Thương mại.
Ngoài ra, Nhà nước ta còn đề ra hàng loạt các chương trình phát triển kinh tế xã hội to lớn, đồng bộ với nhiều hoạt động như: Chương trình quốc gia về giải quyết việc làm với những hoạt động (thực hiện quỹ quốc gia tạo việc làm; thành lập các ngân hàng người nghèo; giao quyền sử dụng ruộng đất để khuyến khích trồng rừng, chương trình hỗ trợ đánh bắt xa bờ.) Nhằm bảo đảm quyền lao động cho công dân, Nhà nước đã có một hệ thống các chủ trương, chính sách thông thoáng đã thu hút được sự đầu tư của nhiều doanh nghiệp, tổ chức kinh tế nước ngoài. Các công ty xuyên quốc gia, các công ty liên doanh xuất hiện ngày càng nhiều ở Việt Nam, giải quyết việc làm cho hàng triệu người lao động, giúp người lao động có thu nhập ổn định cuộc sống cho bản thân và đóng góp công sức cho sự phát triển kinh tế đất nước… Nhà nước và xã hội có kế hoạch tạo ngày càng nhiều việc làm cho người lao động trên cơ sở đó giải quyết nhu cầu việc làm cho mọi đối tượng lao động. Nhà nước ban hành chính sách, chế độ bảo hộ lao động. Nhà nước quy định thời gian lao động, chế độ tiền lương, chế độ nghỉ ngơi và chế độ bảo hiểm xã hội đối với viên chức Nhà nước và những người làm công ăn lương; khuyến khích phát triển các hình thức bảo hiểm xã hội khác đối với người lao động.
Hiến pháp năm 2013 quy định: Nhà nước ban hành chính sách, chế độ bảo hộ lao động. Nhà nước quy định thời gian lao động, chế độ tiền lương, chế độ nghỉ 12 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.