CHƯƠNG 1 QUYỀN ĐƯỢC THAM GIA PHIÊN TÒA, THAY ĐỔI, BỔ SUNG YÊU CẦU PHẢN TỐ 1. Quyền của bị đơn trong việc tham gia, vắng mặt tại phiên tòa sơ thẩm dân sự 1 Theo Từ điển Tiếng Việt “bị đơn” là bên bị kiện tức là một bên trong mối quan hệ tranh chấp bị kiện tụng trước Tòa án. Theo đó, bên bị kiện là một chủ thể trong vụ án bao gồm cá nhân, cơ quan, tổ chức theo quy định của pháp luật tố tụng dân sự. Bên thứ ba là bên có liên quan là khi Tòa án giải quyết vụ án họ phải thực hiện nghĩa vụ hoặc được hưởng quyền lợi từ việc tranh chấp của bên nguyên đơn và bị đơn trong vụ án.
Trong vụ án dân sự các đương sự tham gia tố tụng thông thường gồm hai chủ thể chính là nguyên đơn và bị đơn. Quyền của bị đơn trong tố tụng dân sự là quyền năng mà pháp luật tố tụng dân sự quy định và đảm bảo thực hiện cho bị đơn tham gia quan hệ pháp luật tố tụng dân sự được thực hiện để bảo vệ quyền, lợi ích hợp 2 pháp cho mình hoặc lợi ích công cộng, lợi ích của nhà nước. Quyền của bị đơn tại phiên tòa sơ thẩm là quyền năng mà pháp luật tố tụng dân sự quy định và được đảm bảo thực hiện để bị đơn tham gia tố tụng và bảo vệ quyền lợi ích hợp pháp của mình hoặc lợi ích công cộng, lợi ích của Nhà nước. Quyền của bị đơn trong tố tụng dân sự được quy định tại Điều 70, Điều 72 BLTTDS.
Theo đó, bị đơn được Tòa án thông báo về việc bị khởi kiện; chấp nhận hoặc bác bỏ một phần hoặc toàn bộ yêu cầu của nguyên đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có yêu cầu độc lập; đưa ra yêu cầu phản tố đối với nguyên đơn, nếu có liên quan đến yêu cầu của nguyên đơn hoặc đề nghị đối trừ với nghĩa vụ của nguyên đơn; đưa ra yêu cầu độc lập đối với người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan và yêu cầu độc lập này có liên quan đến việc giải quyết vụ án và có quyền khởi kiện vụ án khác trong trường hợp yêu cầu phản tố hoặc yêu cầu độc lập không được Tòa án chấp nhận để giải quyết trong cùng vụ án. Theo Điều 228 BLTTDS, nếu Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ nhất, đương sự hoặc người đại diện của họ, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự phải có mặt tại phiên tòa; nếu có người vắng mặt thì Hội đồng xét xử phải hoãn 1 Kỳ Duyên- Ngọc Hằng- Đăng Khoa (2012), Từ điển tiếng Việt, NXB Thanh niên, tr. 2 Trần Thị Diệu Linh (2017), Quyền của bị đơn, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, thực tiễn áp dụng tại Tòa án, Luận văn Thạc sĩ luật học, Đại học Luật Hà Nội, tr.9 7 phiên tòa, trừ trường hợp người đó có đơn đề nghị xét xử vắng mặt. Tòa án phải thông báo cho đương sự, người đại diện, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự về việc hoãn phiên tòa.
Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai, nếu bị đơn không có yêu cầu phản tố vắng mặt mà không có người đại diện tham gia phiên tòa thì Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt họ; bị đơn có yêu cầu phản tố vắng mặt mà không có người đại diện tham gia phiên tòa thì bị coi là từ bỏ yêu cầu phản tố và Tòa án quyết định đình chỉ giải quyết đối với yêu cầu phản tố, trừ trường hợp bị đơn có đơn đề nghị xét xử vắng mặt. Bị đơn có quyền khởi kiện lại đối với yêu cầu phản tố đó theo quy định của pháp luật. Theo Điều 228 BLTTDS, Tòa án vẫn tiến hành xét xử vụ án khi bị đơn và người đại diện của họ vắng mặt tại phiên tòa có đơn đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt hoặc bị đơn vắng mặt tại phiên tòa nhưng có người đại diện tham gia phiên tòa và các trường hợp khác theo quy định của BLTTDS. Theo điểm 5 Mục IV Giải đáp số 01/2017/GĐ-TANDTC ngày 07-4-2017 của Tòa án nhân dân tối cao về Giải đáp một số vấn đề nghiệp vụ, trường hợp bị đơn đã ủy quyền hợp lệ cho cho người khác đại diện cho mình tham gia tố tụng thì Tòa án chỉ tống đạt cho người đại diện của bị đơn mà không phải tống đạt cho bị đơn.
Việc tống đạt cho người đại diện của bị đơn được thực hiện theo quy định tại Chương X của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015. Tòa án chỉ tống đạt cho bị đơn khi việc ủy quyền tham gia tố tụng giữa bị đơn và người đại diện của họ chấm dứt hoặc việc tống đạt liên quan đến những nội dung không thuộc phạm vi ủy quyền. Theo điểm 10 Mục IV Giải đáp số 01/2017/GĐ-TANDTC ngày 07-4-2017 của Tòa án nhân dân tối cao, trường hợp hợp tác xã chưa bị giải thể, chưa bị tuyên bố phá sản nếu người đại diện theo pháp luật của hợp tác xã chết thì những xã viên còn sống hoặc những thành viên hợp tác xã còn sống có quyền bầu hoặc cử người đại diện tham gia tố tụng. Trường hợp không thể bầu hoặc cử người đại diện tham gia tố tụng thì Tòa án yêu cầu thành viên hợp tác xã còn sống tham gia tố tụng.
Trường hợp hợp tác xã chưa bị giải thể, chưa bị tuyên bố phá sản nhưng thuộc trường hợp quy định tại khoản 2 Điều 54 Luật hợp tác xã năm 2012 thì Ủy ban nhân dân cùng cấp với cơ quan nhà nước cấp giấy chứng nhận đăng ký hợp tác xã phải ra quyết định giải thể hợp tác xã đó. Tòa án yêu cầu Ủy ban nhân dân giải quyết theo thẩm quyền và căn cứ điểm d khoản 1 Điều 214 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 để ra quyết định tạm đình chỉ giải quyết vụ án. Trường hợp hợp tác xã đã có quyết định giải thể mà việc xử lý tài sản chung và vốn của hợp tác xã được giải 8 quyết theo Điều 36 Luật hợp tác xã năm 2003, khoản 2 Điều 48 Luật hợp tác xã năm 2012, Điều 21 Nghị định số 193/2013/NĐ-CP ngày 21-11-2013 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều của Luật hợp tác xã năm 2012, phần tài sản chung không chia được giao cho chính quyền địa phương quản lý thì người đại diện cho chính quyền địa phương (nơi quản lý tài sản của hợp tác xã) sẽ là người kế thừa quyền, nghĩa vụ của hợp tác xã và tham gia tố tụng tại Tòa án. Theo Án lệ số 12/2017/AL về xác định trường hợp đương sự được triệu tập hợp lệ lần thứ nhất sau khi Tòa án đã hoãn phiên tòa: “[1] Về tố tụng: Theo Biên bản phiên tòa phúc thẩm ngày 26-11-2013 thì tại phiên tòa các đương sự có mặt đầy đủ theo giấy triệu tập của Tòa án.
Tuy nhiên, Hội đồng xét xử đã quyết định hoãn phiên tòa để các đương sự cung cấp thêm chứng cứ. Tại phiên tòa phúc thẩm được mở lại vào ngày 26-02-2014, bị đơn và luật sư bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị đơn vắng mặt. Trường hợp Hội đồng xét xử đã quyết định hoãn phiên tòa và việc hoãn phiên tòa là do Tòa án, tại phiên tòa được mở lại đương sự hoặc người đại diện, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự vắng mặt thì được coi là vắng mặt lần thứ nhất. Lẽ ra, Tòa án cấp phúc thẩm phải xác định là bị đơn và luật sư bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị đơn được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ nhất vắng mặt tại phiên tòa theo quy định tại khoản 1 Điều 199, khoản 2 Điều 266 Bộ luật Tố tụng dân sự để hoãn phiên tòa.
Tòa án cấp phúc thẩm nhận định tại phiên tòa phúc thẩm bị đơn và luật sư bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị đơn đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai vắng mặt tại phiên tòa, từ đó đình chỉ xét xử phúc thẩm đối với yêu cầu kháng cáo của bị đơn là không đúng quy định tại Điều 199, 202, 266 Bộ luật Tố tụng dân sự, làm mất quyền kháng cáo, ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của bị đơn”. Với các quy định và Án lệ nêu trên về quyền được vắng mặt tại phiên tòa sơ thẩm của bị đơn, tác giả nhận thấy có bất cập nhất định. Một, về sự vắng mặt của bị đơn tại phiên tòa sơ thẩm. Theo quy định tại Điều 227 BLTTDS, trường hợp bị đơn vắng mặt lần thứ nhất có lý do chính đáng hay không chính đáng, Tòa án phải hoãn phiên tòa.
Trường hợp Tòa án triệu tập bị đơn tham gia phiên tòa lần thứ hai mà bị đơn vắng mặt với lý do bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan thì Tòa án có thể hoãn phiên tòa. Theo quy định này, tùy trường hợp, HĐXX có thể hoãn hoặc tiếp tục xét xử. Tuy nhiên, vấn đề đặt ra nếu Tòa án hoãn phiên tòa lần thứ hai với lý do bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan nên bị đơn không tham gia phiên tòa là có vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng hay 9 không. Bởi, nếu Tòa án hoãn phiên tòa và mở phiên tòa lần thứ ba và những lần khác khi không còn lý do bất khả kháng hay trở ngại khách quan thì việc Tòa án cấp sơ thẩm mở nhiều phiên tòa như vậy đúng không.
Đây là vấn đề phát sinh trong thực tế và các Thẩm phán xử lý không giống nhau. Có trường hợp, bị đơn đang mang thai có giấy xác nhận của bệnh viện cần phải nghỉ dưỡng thai trong thời gian dài; bị đơn bị tai biến đang điều trị bệnh thời gian dài thì có Tòa án hoãn phiên tòa, có Tòa án không hoãn phiên tòa. Vì nếu Tòa án hoãn phiên tòa nhiều lần thì ảnh hưởng nghiêm trọng đến quyền lợi của các đương sự khác, ngược lại, nếu không chấp nhận hoãn phiên tòa thì ảnh hưởng nghiêm trọng đến quyền lợi của bị đơn. 3 Ví dụ: Hơn 3 năm chưa xử xong vì bị đơn liên tục lấy lý do hoãn phiên tòa.
Nguyên đơn là vợ chồng ông Đoàn Văn Vinh, bà Đỗ Thị Kim Ngân (bố mẹ của ông Đoàn Minh Quân, trú tại phường Phú Thượng, Tây Hồ, Hà Nội) và bị đơn là ông Nguyễn Lương Thế, Giám đốc Công ty Kim Anh cùng vợ là bà Nguyễn Kim Anh (hộ khẩu tại 82 và 132 Tôn Đức Thắng, Đống Đa, tạm trú tại 106 phố Linh Lang phường Cống Vị, quận Ba Đình, Hà Nội).