CHƯƠNG 1: KHÁI QUÁT CHUNG VỀ QUYỀN BỀ MẶT 1. KHÁI NIỆM VÀ ĐẶC ĐIỂM QUYỀN BỀ MẶT 1. Khái niệm quyền bề mặt Một trong những điểm mới nhất trong Bộ luật dân sự năm 2015 đó là việc vận dụng lý thuyết “vật quyền” trong việc sửa đổi chế định tài sản và quyền sở hữu trong Bộ luật dân sự năm 2005 thành chế định quyền sở hữu và các quyền khác đối với tài sản. Dù cho Bộ luật dân sự năm 2015 không sử dụng thuật ngữ vật quyền thì chúng ta cũng phải thừa nhận rằng các nội dung của chế định quyền sở hữu và quyền khác đối với tài sản chính là những nội dung đƣợc vận dụng từ vật quyền, trong đó tiêu biểu là chế định về “quyền bề mặt”.
Do đó, để đƣa ra đƣợc khái niệm về quyền bề mặt, chúng ta phải giải thích đƣợc các thuật ngữ pháp lý nhƣ sau: quyền; vật quyền và quyền bề mặt. “Quyền” là điều mà Nhà nƣớc và pháp luật hoặc xã hội công nhận cho đƣợc hƣởng, đƣợc làm, đƣợc đòi hỏi [8]. “Vật quyền” theo một cách hiểu chung nhất khi cắt nghĩa thì đó chính là quyền đối với tài sản. Trong khoa học pháp lý, vật quyền đƣợc hiểu theo hai góc độ khác nhau: Thứ nhất, vật quyền theo định nghĩa trong học thuyết pháp lý ở các nƣớc chịu ảnh hƣởng của luật La Mã là quyền đƣợc thực hiện trực tiếp và ngay lập tức trên một vật.
Ngƣời có vật quyền thực hiện các quyền của mình mà không cần sự hợp tác của ngƣời khác [31]. Nói đến khái niệm vật quyền thì phải bắt đầu từ luật La Mã mặc dù luật La Mã không đƣa ra khái niệm vật quyền cũng nhƣ các luật gia La Mã không phân biệt quyền tài sản thành vật quyền và trái quyền, tuy nhiên lý thuyết vật quyền lại đƣợc xây dựng từ kết quả phân tích 8 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com các đặc điểm của quyền sở hữu trong luật La Mã. Các luật gia La Mã xác định: Một chủ thể có thể tạo ra một tài sản hoặc mua một tài sản, trên cơ sở đó họ là chủ sở hữu đối với tài sản đã tạo ra, đã mua và khi trở thành chủ sở hữu thì họ có toàn quyền đối với tài sản đó, đƣợc thực hiện tất cả các hành vi tác động lên tài sản để thỏa mãn yêu cầu của mình và không phụ thuộc vào ý chí cũng nhƣ hành vi của ngƣời khác. Ngƣời ta nhận thấy các quyền này mang tính chất tuyệt đối và độc nhất, nghĩa là chủ sở hữu có tất cả các quyền đối với tài sản và tập trung các quyền đó trong tay của mình.
Dựa trên tính chất đó mà các luật gia sau này đã xây dựng nên khái niệm vật quyền và trái ngƣợc với nó là trái quyền [41]. Thứ hai, vật quyền đƣợc hiểu là toàn bộ các quy phạm pháp luật quy định về vật với tƣ cách là đối tƣợng của vật quyền, nội dung của các loại vật quyền, căn cứ phát sinh, chấm dứt các loại vật quyền, nguyên tắc thực hiện, bảo vệ vật quyền, các hạn chế mà ngƣời có vật quyền phải tuân thủ khi thực hiện các quyền năng của mình. Nói cách khác, theo cách hiểu này thì vật quyền chính là sự quy định của pháp luật về vật, về các quyền của chủ sở hữu và ngƣời không phải là chủ sở hữu đối với vật [25]. Khái niệm vật quyền đã đƣợc sử dụng một cách rộng rãi trong hệ thống pháp luật dân sự của những nƣớc thuộc hệ thống pháp luật Civil Law.
Ví dụ nhƣ tại Bộ luật Napoleon (1804) – Bộ luật Dân sự đầu tiên trên thế giới có quy định về vật quyền (quyền trên vật) tại phần thứ hai. Trong Bộ luật dân sự của Nhật Bản cũng quy định về vật quyền tại phần thứ hai. Bộ luật dân sự Cộng hòa Liên Bang Nga năm 1995 cũng có quy định về quyền sở hữu và các loại vật quyền khác trong phần thứ hai, và sau 20 năm tồn tại, dự thảo của Bộ luật dân sự mới nhất của Nga, tên gọi này đã đƣợc dự kiến thay bằng “vật quyền” để đảm bảo tính ngắn gọn, phù hợp với thông lệ quốc tế [11]. 9 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Trong quá trình xây dựng dự thảo Bộ luật Dân sự năm 2015, đã từng có thời điểm Ban soạn thảo đƣa ra khái niệm “vật quyền” vào trong dự thảo và sửa đổi chế định “Tài sản và quyền sở hữu” quy định ở phần thứ hai của Bộ luật dân sự năm 2005 thành chế định “Quyền sở hữu và các vật quyền khác”.
Dự thảo sửa đổi này nhằm hƣớng tới mục tiêu xây dựng hệ thống vật quyền đầy đủ ở Việt Nam thông qua việc thừa nhận sự tồn tại của nhiều loại vật quyền khác nhau bên cạnh quyền sở hữu, đƣa các loại quyền tài sản trở về đúng bản chất của nó, phân định rõ hơn các hình thức sở hữu, qua đó bảo vệ tốt hơn quyền tài sản của các chủ thể pháp luật. Tuy nhiên, đến dự thảo cuối cùng đƣợc Quốc hội thông qua tại kỳ họp thứ 10, Quốc hội khóa XIII (đã có hiệu lực từ 1/1/2017) thì khái niệm vật quyền không còn đƣợc sử dụng nữa, phần thứ hai của Bộ luật dân sự năm 2005 đƣợc sửa đổi thành “Quyền sở hữu và các quyền khác đối với tài sản”. Giải thích về lý do không sử dụng khái niệm vật quyền trong Bộ luật Dân sự năm 2015, nhà làm luật cho rằng việc sử dụng một thuật ngữ hoàn toàn mới trong luật Việt Nam cần phải đƣợc cân nhắc và có tính thuyết phục, bởi lẽ khi sử dụng một thuật ngữ pháp lý mới khiến chúng ta phải thống nhất cách hiểu, lại dùng từ ngữ Hán Việt nên ngƣời dân khó hiểu, có thể sẽ đi ngƣợc lại với xu hƣớng thay đổi về mặt lập pháp ở Việt Nam. Bởi lẽ khi xây dựng một chế định pháp luật hay một thuật ngữ pháp lý, dù là nhỏ hay lớn thì tiêu chí đặt ra đó là phải dễ hiểu, dễ tiếp cận đối với mọi chủ thể trong xã hội [17].
“Quyền bề mặt” là khái niệm mới đƣợc quy định trong Bộ luật Dân sự năm 2015 của Việt Nam, nhƣng đối với các nƣớc trên thế giới thì đây là khái niệm không hề mới, thậm chí đã đƣợc quy định từ rất lâu trong luật dân sự La Mã. Dựa trên những tƣ liệu lịch sử của nhân loại, các nhà nghiên cứu cho rằng thuật ngữ “Quyền bề mặt” (Superficies) đã đƣợc hình thành từ rất sớm khoảng 10 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com năm 439 Trƣớc Công nguyên, khi luật 12 Bảng của nhà nƣớc La Mã ra đời. Cụ thể, thuật ngữ quyền bề mặt đã xuất hiện trong Bộ tập hợp Corpus Juris Civilis – BLDS đồ sộ nhất của Luật La Mã vào thời kỳ hoàng đế Justinian (năm 529 Sau Công nguyên) [38]. Quan điểm của một số nƣớc trên thế giới cho rằng quyền bề mặt là quyền gắn với bề mặt đất để xây dựng công trình, là một trong số quyền thuộc quyền sở hữu.
Đây cũng là quy định theo luật La Mã. Theo đó, quyền bề mặt chỉ là quyền đối với phần mặt đất và không có quyền đối với các khoáng chất dƣới lòng đất, không gian trên mặt đất, mặt nƣớc hay bầu trời. Mà các quyền này độc lập với nhau và có thể chuyển nhƣợng nhƣ với các tài sản thông thƣờng. Theo đó thì quyền bề mặt là quyền sở hữu tài sản gắn liền với đất và không bao gồm quyền đối với khoáng sản trong lòng đất.
Ở luật La Mã, các quyền đối vật (vật quyền) bao gồm: quyền chiếm hữu, quyền sở hữu, quyền địa dịch, quyền dụng ích cá nhân, quyền bề mặt và quyền cầm cố. Quyền bề mặt có hai dạng đặc biệt là: quyền của ngƣời thuê trƣờng kỳ đất canh tác và quyền xây dựng các công trình trên đất của ngƣời khác. Các vật quyền này đƣợc chia thành hai loại: vật quyền chính yếu và vật quyền phụ thuộc. Trong đó, quyền bề mặt là vật quyền phụ thuộc, là vật quyền đƣợc xác lập đối với tài sản của ngƣời khác, là quyền của chủ thể không phải là chủ sở hữu của tài sản nhƣng có quyền sử dụng và hƣởng những lợi ích mà tài sản đó đem lại.
Vật quyền phụ phải phát sinh trên cơ sở vật quyền chính (vật quyền chính luôn có trƣớc), tác động hạn chế lên vật, không xâm phạm lợi ích hợp pháp của chủ sở hữu vật, nên vật quyền phụ còn đƣợc gọi là vật quyền hạn chế. Quyền bề mặt đƣợc pháp luật các quốc gia quy định là vật quyền phụ thuộc hay vật quyền hạn chế. 11 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Quyền bề mặt (Superficies) là quyền sử dụng bề mặt đất để tạo lập các tài sản gắn liền với đất. Trƣờng hợp phổ biến nhất của quyền bề mặt là các công trình đƣợc xây dựng trên đất của ngƣời khác.
Mỗi công trình xây dựng đều đƣợc coi là một phần của đất mà nó đƣợc đặt trên. Ngƣời có quyền bề mặt có quyền đƣợc hƣởng bề mặt, có thể chuyển nhƣợng, thế chấp, cầm cố trong thời gian anh ta hƣởng quyền của mình, có thể để thừa kế theo di chúc và có thể bảo vệ quyền của mình theo phƣơng thức kiện vật quyền. Một ngƣời có thể có quyền bề mặt bằng cách thỏa thuận với chủ sở hữu đất cho phép xây dựng công trình trên đó, phải thanh toán chi phí hợp lý theo thỏa thuận. Quyền bề mặt giống nhƣ là quyền canh tác, là vô thời hạn hoặc trong một thời gian dài.
Quyền bề mặt đƣợc xác lập, chuyển dịch và chấm dứt giống nhƣ quyền canh tác. Quyền bề mặt cũng có thể chấm dứt khi hết thời hạn thuê, hoặc không trả tiền thuê trong một thời gian nhất định. Liên quan đến quyền bề mặt cần đề cập đến nguyên tắc của sở hữu đất, đó là những gì có trên đất đều thuộc về đất (Superficies solo cedit), nguyên tắc này vẫn đƣợc nhiều quốc gia ngày nay ghi nhận. Nó đƣợc hiểu là những tài sản có trên đất đều đƣợc coi là một phần của đất và thuộc về chủ sở hữu của mảnh đất đó [21].
Quan điểm khác cho rằng Quyền bề mặt bao gồm cả quyền đối với phần không gian trên đất và cả phần không gian dƣới lòng đất. Đây là quan niệm đƣợc hầu hết các nƣớc Châu Âu sử dụng nhƣ trong pháp luật của Đức, Nga, Hà Lan và một số nƣớc khác. Để xác lập quyền bề mặt, chủ thể có tài sản thuộc sở hữu quyền bề mặt có quyền đối với những bất động sản hữu hình, những tài sản này phục vụ cho việc khai thác công dung của đất. Ở đây, bề mặt bao gồm phạm vi trên mặt đất và trong lòng đất.