Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ THỰC HIỆN QUYỀN BÀO CHỮA CỦA BỊ CÁO LÀ NGƯỜI DƯỚI 18 TUỔI TRONG GIAI ĐOẠN XÉT XỬ SƠ THẨM VỤ ÁN HÌNH SỰ 1. Khái niệm thực hiện quyền bào chữa của bị cáo là người dưới 18 tuổi trong giai đoạn xét xử sơ thẩm vụ án hình sự 1. Khái niệm quyền bào chữa Quyền con người luôn là vấn đề được quan tâm trong mỗi đạo luật của các quốc gia. Tại các quốc gia phát triển quyền con người được chú trọng từ rất sớm, cụ thể, Đạo luật của Anh năm 1689 về các quyền và Tuyên ngôn độc lập của Mỹ năm 1776 đều khảng định: “Tất cả mọi người đều sinh ra có quyền bình đẳng, tạo hoá cho họ những quyền không ai có thể xâm phạm được, trong những quyền ấy có quyền được sống, quyền được tự do và mưu cầu hạnh phúc”.
Tại Pháp, trong Bản tuyên ngôn nhân quyền năm 1791 ghi nhận quyền con người như sau: “Người ta sinh ra tự do và bình đẳng về quyền lợi và phải luôn luôn được tự do và bình đẳng về quyền lợi”. Có thể nói, quyền bào chữa là một nội dung quan trọng góp phần đảm bảo quyền con người trong xã hội. Quyền này đã được ghi nhận trong Tuyên ngôn về Nhân quyền của Liên hợp quốc: “Mọi người, nếu bị cáo buộc về hình sự, đều có quyền được coi là vô tội cho đến khi được chứng minh là phạm tội theo pháp luật, tại một phiên tòa xét xử công khai, nơi người đó được đảm bảo những điều kiện cần thiết để bào chữa cho mình”1. Xuất phát từ những nội dung văn bản quốc tế đã ghi nhận, các quốc gia đã thể hiện sự quan tâm đến quyền bào chữa của người bị buộc tội qua việc quy định tương đối cụ thể, toàn diện trong pháp luật mỗi nước.
Người bị buộc tội được thông báo về 1 Điều 11.1 Tuyên ngôn Nhân quyền được Đại hội đồng Liên hợp quốc thông qua ngày 10/12/1948 8 quyền và được tạo điều kiện để bảo đảm thực hiện các quyền, đặc biệt là quyền bào chữa, quyền được tự do đưa ra ý kiến đáp lại những lời buộc tội mình, không buộc phải nhận mình có tội hoặc phải đưa ra lời khai chống lại mình (Điều 114b, 115, 136, 243 BLTTHS Đức, Điều 63-1 BLTTHS Pháp, Điều 46, 47 BLTTHS Liên bang Nga, Điều 311 BLTTHS Nhật Bản). Luật TTHS của các nước khác nhau cũng có những quy định khác nhau về chủ thể của quyền bào chữa. Theo pháp luật Nhật Bản, quyền bào chữa thuộc về bị cáo và người bị tình nghi, điều này được quy định tại Điều 30 BLTTHS Nhật Bản như sau: “Bị cáo hoặc người bị tình nghi có thể lựa chọn luật sư bào chữa bất kì lúc nào”. Ở Bungari, quyền bào chữa chỉ thuộc về bị can, bị cáo.
Tuy nhiên quyền này cũng khá hạn chế, bởi bị can chỉ có quyền nhờ người bào chữa trong một số trường hợp cụ thể mà pháp luật quy định (Điều 73 BLTTHS Bungari). Theo BLTTHS của chính quyền Sài Gòn trước đây, tại Điều 38 quy định: “Trong giai đoạn điều tra sơ vấn nghi can bị bắt giữ hoặc bị điều tra phải biết ngay là phạm tội gì và có quyền nhờ luật sư dự kiến”.2 Như vậy, có rất nhiều các hiểu khác nhau về khái niệm quyền bào chữa trong TTHS. Trên thực tế, khái niệm này cũng được quy định không giống nhau trong BLTTHS mỗi quốc gia. Ở Việt Nam, bản Hiến pháp đầu tiên đã quy định về quyền tự bào chữa: “Người bị cáo được quyền tự bào chữa hoặc mượn luật sư”3.
Nội dung này tiếp tục được ghi nhận ở các bản Hiến pháp tiếp theo: Hiến pháp năm 1959 quy định: “Quyền bào chữa của người bị cáo được bảo đảm” (Điều 101); Hiến pháp năm 1980, Hiến pháp năm 1992 đều tiếp tục khẳng định về đảm bảo quyền bào chữa. Điều 132 Hiến pháp năm 1992 quy định: “ Quyền bào chữa của bị cáo được bảo đảm. Bị cáo có thể tự bào chữa hoặc nhờ người khác bào chữa cho mình. Tổ chức luật sư được thành lập để 2 T.S Hoàng Thị Sơn, Về khái niệm quyền bào chữa và việc bảo đảm quyền bào chữa của bị can, bị cáo, Tạp chí Luật học số 05 (2000) 3 Điều 67, Hiến pháp 1946 9 giúp bị cáo và các đương sự khác bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình và góp phần bảo vệ pháp chế xã hội chủ nghĩa”.
Trong thời gian gần đây, mở rộng dân chủ, tăng cường pháp chế bảo vệ quyền công dân, quyền con người đang trở thành vấn đề cấp bách và là nhiệm vụ của toàn xã hội. Hiến pháp năm 2013 ra đời đã kế thừa và phát triển các bản Hiến pháp trước, quy định rõ hơn về quyền bào chữa của người bị buộc tội, cụ thể tại khoản 4 Điều 31 Hiến pháp năm 2013 quy định: “Người bị bắt, tạm giữ, tạm giam, khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử có quyền tự bào chữa, nhờ luật sư hoặc người khác bào chữa”. Đồng thời, Hiến pháp 2013 cũng mở rộng đối tượng được đảm bảo quyền bào chữa. Quyền bào chữa phát sinh ngay từ khi một người bị bắt qua việc họ quyền tự bào chữa hoặc nhờ luật sư bào chữa.
Điều này được đảm bảo bởi Hiến pháp - đạo luật có giá trị pháp lý cao nhất. Để cụ thể hóa Hiến pháp, BLTTHS đã có những quy định về quyền bào chữa của người bị buộc tội, đồng thời bảo đảm quyền bào chữa của người bị buộc tội được coi là nguyên tắc cơ bản của TTHS. Quyền bào chữa xuất hiện trong các giai đoạn của TTHS như: khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử. Hiện nay, có nhiều cách hiểu không thống nhất về khái niệm quyền bào chữa trong TTHS.
Quan điểm thứ nhất: “Quyền bào chữa là tổng hợp những hành vi tố tụng liên quan đến bác bỏ và xác định bị can không có tội hoặc làm giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị can”4. Quan điểm thứ hai, quyền bào chữa được hiểu rộng hơn: “Nó không chỉ là hoạt động nhằm bác bỏ sự buộc tội hay làm giảm trách nhiệm của bị can mà còn bao gồm việc bảo đảm các quyền và lợi ích hợp pháp của bị can kể cả khi những quyền lợi đó không trực tiếp liên quan đến việc làm giảm nhẹ trách 4 Đảm bảo quyền bào chữa của người bị buộc tội, của Phạm Hồng Hải, NXB Công an nhân dân, Hà Nội, (1999), tr14 10 nhiệm hình sự của bị can”.5 Có thể thấy, hai quan điểm trên cho rằng quyền bào chữa chỉ thuộc về bị can Đây là cách hiểu chưa thật đầy đủ về khái niệm quyền bào chữa. Bởi lẽ, một người có tư cách bị can chỉ từ khi có quyết định khởi tố bị can đến khi Tòa án ra quyết định đưa vụ án ra xét xử. Kể từ thời điểm có quyết định đưa vụ án ra xét xử, họ tham gia tố tụng với tư cách bị cáo.
Như vậy, nếu hiều theo hai quan điểm trên thì từ khi Tòa án có quyết định đưa vụ án ra xét xử, người bị buộc tội tham gia tố tụng với tư cách bị cáo, họ sẽ không còn quyền bào chữa. Thực tiễn xét xử cho thấy, quyền bào chữa ở giai đoạn này mới được thể hiện một cách rõ nét nhất, bởi họ được bình đẳng, công khai đưa ra những chứng cứ, lý lẽ, được tham gia tranh luận tại phiên tòa… để chứng minh và bác bỏ sự buộc tội đối với mình. Ngoài ra, ở nước ta, quyền bào chữa của bị cáo luôn được ghi nhận trong các các bản Hiến pháp từ trước đến. Do đó, hai quan điểm trên cho rằng chỉ bị can mới là chủ thể của quyền bào chữa là trái với Hiến pháp cũng như các văn kiện quốc tế mà Việt Nam là thành viên.
Quan điểm thứ ba: “Quyền bào chữa là toàn bộ các quyền mà pháp luật quy định, cho phép bị can, bị cáo sử dụng để bác bỏ một phần hoặc toàn bộ sự buộc tội hoặc giảm nhẹ trách nhiệm hình sự” 6. Có thể thấy ở quan điểm này, phạm vi chủ thể của quyền bào chữa chỉ gồm bị can, bị cáo là chưa đầy đủ. Thực tế, người bị buộc tội bao gồm: người bị bắt, người bị tạm giữ, bị can, bị cáo đều có quyền bào chữa. Quan điểm thứ tư: “Quyền bào chữa là tổng thể các quyền mà pháp luật quy định nhằm chống lại sự buộc tội hoặc làm giảm nhẹ trách nhiệm hình sự.
5 Đảm bảo quyền bào chữa của người bị buộc tội, của Phạm Hồng Hải, NXB Công an nhân dân, Hà Nội, (1999), tr18 6 Hoàng Thị Sơn (2003), Thực hiện quyền bào chữa của bị can, bị cáo trong tố tụng hình sự, Luận án tiến sĩ Luật học, Đại học Luật Hà Nội, tr14 11 Nói cụ thể hơn thì quyền bào chữa giúp cho người bị buộc tội đưa ra những lý luận, chứng cứ cần thiết liên quan đến việc bị buộc tội của mình, đề nghị cơ quan tiến THTT căn cứ vào quy định pháp luật, xem xét sự vô tội hoặc việc giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với họ” 7. Tác giả đồng tình với quan điểm này, bởi có thể thấy quyền bào chữa là quyền tố tụng xuất hiện trên cơ sở thực hiện chức năng cơ bản của TTHS, chỉ thuộc về người bị buộc tội. Nhìn chung, về cơ bản hoạt động TTHS bao gồm các hoạt động nhằm thực hiện các chức năng chính của TTHS: chức năng buộc tội, chức năng bào chữa và chức năng xét xử. Ba chức năng này có mối quan hệ gắn bó không thể tách rời, trong đó sự đối trọng giữa chức năng buộc tội và chức năng bào chữa chính là yếu tố quan trọng để hạn chế oan sai, giúp giải quyết đúng đắn vụ án hình sự, đảm bảo hoạt dộng tố tụng khách quan,dân chủ.
Từ những phân tích trên, có thể đưa ra khái niệm về quyền bào chữa như sau: Quyền bào chữa là tổng hợp tất cả các quyền của người bị buộc tội do pháp luật quy định nhằm chứng minh sự vô tội hoặc làm giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của người bị buộc tội trước cơ quan THTT thông qua việc sử dụng các lý lẽ, chứng cứ, tài liệu. Khái niệm bị cáo dưới 18 tuổi Một trong những hoạt động mà các quốc gia trên toàn thế giới đang nỗ lực thực hiện là tìm mọi cách bảo đảm hệ thống pháp luật liên quan đến người dưới 18 tuổi phạm tội tuân thủ theo đúng luật quốc tế về quyền con người.