Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN, THỰC TIỄN CỦA QUYỀN AN TỬ 1. Một số khái niệm cơ bản 1. An tử và trợ tử Thuật ngữ an tử hay cái chết êm ả (euthanasia) có nguồn gốc từ khái niệm euthanatos trong tiếng Hy Lạp, xuất hiện rất sớm trong lịch sử, khoảng thế kỉ thứ 5 trước Công nguyên. Hiện nay chưa có một định nghĩa toàn cầu chính thức cho khái niệm này, nhưng nhìn chung những người ủng hộ an tử và quyền an tử coi an tử là “Hành vi được biểu hiện dưới dạng hành động hoặc không hành động, mà bản thân việc này hoặc việc này có mục đích là giúp đỡ những cá nhân đang phải chịu đựng bệnh tật không có khả năng cứu chữa được chết có nhân phẩm, dễ dàng và nhẹ nhàng hơn” [21].
Trong đó, hành động hoặc không hành động có thể được hiểu lần lượt là việc trợ giúp giải thoát một người khỏi bệnh tật bằng phương pháp như tiêm thuốc gây tử vong hoặc cho phép người đó được chết bằng cách rút bỏ các điều trị y tế thông thường và cần thiết. Tuy nhiên phải chú ý rằng hành vi không hành động chỉ được chấp nhận nếu việc can thiệp y khoa là vô ích và gây gánh nặng quá mức cho bệnh nhân. Việc không cung cấp các phương pháp trợ sinh trong trường hợp vẫn cải thiện được tình hình bệnh nhân, có thể bị coi là hành vi giết người. Qua thời gian, nội hàm của khái niệm an tử có nhiều thay đổi.
Trước đây an tử thường chỉ được dùng cho các trường hợp cá nhân đang phải chịu đựng khổ sở do bệnh tật với mục đích giúp họ thoát khỏi đau đớn. Nhưng ngày nay bệnh nhân được thực hiện cái chết êm ả với những lý do khác như mục đích sống không còn đạt được, không có khả năng chi trả phí điều trị hay giảm gánh nặng chăm sóc. Nhiều ý kiến phản đối, coi việc liên quan đến kinh 4 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com tế là không thể chấp nhận, nhưng thực tế đã chứng minh lý do này chiếm tỷ lệ khá lớn trong các trường hợp mong muốn thực hiện an tử. Nỗi sợ hãi trở thành gánh nặng tài chính cho thân nhân và gia đình là mối bận tâm lớn thứ hai của những bệnh nhân không có khả năng chữa trị.
Theo một cuộc điều tra tại Oregon, Mỹ, nơi trợ tử đã được công nhận hợp pháp, 66% bệnh nhân mong muốn thực hiện cái chết êm ả vì lý do này. An tử có thể được phân biệt dựa trên nhiều tiêu chí, trong đó phổ biến nhất dựa trên tính chất của sự tự nguyện và biện pháp thực hiện - Dựa trên tính chất tự nguyện, an tử được chia thành an tử tự nguyện (voluntary euthanasia ), an tử phi tự nguyện (non-voluntary euthanasia ) và an tử trái nguyện vọng (involuntary euthanasia). Trong đó, an tử tự nguyện là việc bệnh nhân đưa ra quyết định chấm dứt cuộc sống trong điều kiện tỉnh táo và nhờ đến sự hỗ trợ của bác sĩ. An tử phi tự nguyện là trường hợp bệnh nhân không có khả năng bày tỏ sự chấp thuận của họ (vì lý do hôn mê, tổn thương não,…) và một người khác thay mặt người bệnh quyết định với điều kiện tiên quyết là người bệnh này trước đó đã thể hiện mong muốn kết thúc cuộc sống nếu lâm vào tình trạng này.
An tử trái nguyện vọng còn được gọi là an tử ép buộc hoặc an tử không tự nguyện, là khi người bệnh hoàn toàn từ chối hoặc không hề bày tỏ mong muốn được giải thoát dưới bất kì hình thức nào nhưng việc này vẫn được thực hiện đi ngược lại ý chí của họ. An tử trái nguyện vọng, trong mọi trường hợp, đều bị coi là hành vi giết người. Việc sử dụng các thuật ngữ trên có sự khác biệt ở nhiều quốc gia. Hiện nay Hà Lan, một trong số những nước đầu tiên trên thế giới hợp pháp hóa quyền an tử và ban hành pháp luật về an tử chỉ còn dùng duy nhất khái niệm an tử, nhưng trong đó bao gồm cả an tử tự nguyện và an tử phi tự nguyện dưới hình thức người bệnh chỉ định người đại diện cho mình trong trường hợp lâm vào trạng thái mất ý thức và quyền định đoạt sẽ thuộc về người đại diện.
5 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com - Dựa trên tiêu chí phương pháp thực hiện, an tử được chia thành an tử chủ động (active euthanasia) và an tử bị động (passive euthanasia) tương ứng với hai loại hành vi hành động và không hành động kể trên. Theo đó, an tử chủ động là trường hợp cố tình can thiệp để chấm dứt cuộc sống của bệnh nhân. Hành vi này không phụ thuộc vào bất cứ yếu tố nào khác ngoại trừ sự vận hành bình thường của các cơ quan trong cơ thể (như việc lưu thông máu sẽ đưa chất độc đi khắp cơ thể). Đây có thể coi là cách thức có hiệu quả trong mọi trường hợp, dù tình trạng của bệnh nhân như thế nào.
Trong khi đó an tử bị động là thu hồi các biện pháp chữa trị, hay nói cách khác là để bệnh nhân chết đi. Vì vậy an tử bị động còn được coi là biện pháp tự nhiên và phụ thuộc vào nhiều yếu tố, nhất là tình trạng bệnh nhân và tính chất của các phương pháp điều trị y học. An tử chủ động đem đến sự giải thoát nhanh hơn và dễ dàng hơn cho người bệnh. Tuy nhiên, trước đây mọi hành vi an tử chủ động đều là bất hợp pháp.
Hiện nay một số hệ thống luật pháp đã không còn phân biệt rạch ròi giữa hai phương pháp này. Thực tế ở nhiều nơi, thuật ngữ an tử và trợ tử được sử dụng song song và thay thế lẫn nhau. Tuy nhiên, giữa hai khái niệm này cũng có sự khác biệt. Nếu như an tử là việc biết, trực tiếp hành động một cách có chủ đích đem đến cái chết nhẹ nhàng cho một cá nhân thì trợ tử được định nghĩa là việc biết, hành động trực tiếp một cách có chủ đích cung cấp phương tiện để cá nhân thực hiện việc tự tử.
Như vậy có thể thấy điểm phân biệt lớn nhất giữa an tử và trợ tử là chủ thể nắm giữ vai trò chủ đạo trong quá trình, hay chủ thể thực hiện toàn bộ hành vi hoặc thực hiện hành vi cuối cùng. Ví dụ việc bác sĩ tiêm thuốc nhằm giải thoát cho bệnh nhân là an tử nhưng nếu bác sĩ kê đơn, cung cấp thuốc cho bệnh nhân tự uống hoặc đưa kim tiêm vào tĩnh mạch bệnh nhân nhưng để bệnh nhân tự vận hành quá trình đưa thuốc vào cơ thể (tự đẩy xi lanh hoặc bấm nút) thì lại là trợ tử. Có sự khác biệt như vậy, nhưng nếu xét 6 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com cho cùng thì trợ tử là hình thức sơ khai của an tử, trong đó vai trò của bác sĩ chưa được mở rộng. Ở hầu hết các nước đã thông qua luật an tử, hành vi trợ tử cũng hợp pháp và thường được dùng chung với nhau.
Theo một báo cáo năm 2010 tại Hà Lan tỷ lệ an tử chủ động là 2,8% trong khi trợ tử là 0,1% trên tổng số người chết. Con số tại Bỉ năm 2007 lần lượt là 1,9% và 0,07%. Tuy nhiên chiều ngược lại không đúng. Ở những vùng lãnh thổ mới chỉ hợp pháp hóa hành vi trợ tử, an tử có thể bị coi là hành vi vượt quá thẩm quyền và dẫn tới khả năng phải chịu trách nhiệm pháp lý hoặc trách nhiệm nghề nghiệp cho người thực hiện.
Đồng thời, cũng phải phân biệt hành vi an tử với hành vi cho phép từ chối khám bệnh, chữa bệnh khi đang ở giai đoạn cuối hay hành vi cho phép người bệnh hấp hối về nhà. Nếu hành vi an tử trực tiếp dẫn đến việc chấm dứt sự sống của người bệnh thì các hành vi sau chỉ mang tính chất gián tiếp, tuy cùng vì mục đích nhân đạo nhưng không có sự chủ động chấm dứt cuộc sống của bác sĩ mà thay vào đó, bác sĩ chỉ chấp thuận theo nguyện vọng ngừng điều trị của người bệnh. Và sự khác biệt lớn nhất là nếu an tử nhằm chấm dứt những đau khổ kéo dài của người bệnh, thì việc cho phép từ chối điều trị và về nhà trên, theo lời PGS.TS Trương Văn Việt, giám đốc Bệnh viện Chợ Rẫy, thì “không phải để cho bệnh nhân chết mà là vì quan hệ tình cảm giữa người sắp chết với người thân: gặp người thân lần cuối, có chết thì chết ở nhà, vấn đề tín ngưỡng, tập quán” [12]. Quyền an tử Xuất phát từ khái niệm an tử, quyền an tử có thể được định nghĩa là quyền nhân thân và là đặc quyền của những cá nhân rơi vào trạng thái bệnh lý không có khả năng chữa trị, được quyết định kết thúc cuộc sống của mình với sự hỗ trợ của chủ thể có thẩm quyền và tuân theo các quy định chặt chẽ của pháp luật.
7 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Định nghĩa về quyền an tử có thể khác nhau tùy thuộc vào quan niệm của các nhà làm luật mỗi quốc gia nhưng nhìn chung tất cả đều loại bỏ hành vi an tử trái nguyện vọng ra khỏi nội hàm của khái niệm này. Có quốc gia chấp nhận an tử chủ động, có quốc gia không, dẫn đến việc thu hẹp phạm vi khái niệm quyền an tử chỉ được thực hiện dưới hình thức bị động. Điều tương tự cũng xảy ra với việc có nên đặt ra giới hạn về độ tuổi với chủ thể hưởng thụ quyền, cụ thể có nên cho phép trẻ vị thành niên có quyền an tử hay không. Hiện nay tồn tại nhiều thuật ngữ có ý nghĩa tương tự quyền an tử như quyền được chết (right to die) hay quyền được chết có nhân phẩm (right to die with dignity).
Theo ý kiến của người viết, nên dùng khái niệm quyền an tử để biểu thị rõ mục đích tốt đẹp cũng như bản chất nhân đạo và ý nghĩa nhân văn của quyền. Cơ sở hình thành quyền an tử 1. Nguyên tắc hình thành quyền an tử Quyền an tử dựa trên nguyên tắc tự do ý chí, nguyên tắc hành thiện và sự kết hợp giữa hai nguyên tắc này. - Nguyên tắc tự do ý chí (The Principle of Autonomy): Autonomy được cấu thành từ hai từ Hy Lạp cổ là autos (tự thân) và nomos (luật).
Vì vậy, về mặt ngữ nghĩa, autonomy nghĩa là một người thụ hưởng quyết định của chính mình.