chương 1 Qua chương này, đã nêu lên được những đặc điểm, mục tiêu, cơ cấu tổ chức cũng như giới thiệu được chương trình kiểm toán mà công ty thực hiện. Từ đó, thấy được tình hình hoạt động và sự phát triển công ty trong thị trường ngày nay. 14 do an CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ KIỂM TOÁN KHOẢN MỤC TSCĐ VÀ CPKH TRONG KIỂM TOÁN BÁO CÁO TÀI CHÍNH TẠI DOANH NGHIỆP 2.1 Khoản mục TSCĐ và CPKH 2.1 Khái niệm Theo VAS 03 mục 05 như sau: + “Tài sản cố định hữu hình: Là những tài sản có hình thái vật chất do doanh nghiệp nắm giữ để sử dụng cho hoạt động sản xuất, kinh doanh phù hợp với tiêu chuẩn ghi nhận TSCĐ hữu hình.” + “Nguyên giá: Là toàn bộ các chi phí mà doanh nghiệp phải bỏ ra để có được TSCĐ hữu hình tính đến thời điểm đưa tài sản đó vào trạng thái sẵn sàng sử dụng” Theo VAS 04 mục 06 như sau: * “Tài sản cố định vô hình: Là tài sản không có hình thái vật chất nhưng xác định được giá trị và do doanh nghiệp nắm giữ, sử dụng trong sản xuất, kinh doanh, cung cấp dịch vụ hoặc cho các đối tượng khác thuê phù hợp với tiêu chuẩn ghi nhận TSCĐ vô hình.” * “Nguyên giá: Là toàn bộ các chi phí mà doanh nghiệp phải bỏ ra để có được TSCĐ vô hình tính đến thời điểm đưa tài sản đó vào sử dụng theo dự tính.” Theo VAS 06 mục 06 như sau: “TSCĐ thuê tài chính: Là thuê tài sản mà bên cho thuê có sự chuyển giao phần lớn rủi ro và lợi ích gắn liền với quyền sở hữu tài sản cho bên thuê. Quyền sở hữu tài sản có thể chuyển giao vào cuối thời hạn thuê.” Theo điều 02 của thông tư mới cập nhật số 45/2013/TT-BTC có viết: + Giá trị hợp lý của tài sản cố định: là giá trị tài sản có thể trao đổi giữa các bên có đầy đủ hiểu biết trong sự trao đổi ngang giá.
+ Hao mòn tài sản cố định: là sự giảm dần giá trị sử dụng và giá trị của tài sản cố định do tham gia vào hoạt động sản xuất kinh doanh, do bào mòn của tự nhiên, do tiến bộ kỹ thuật. trong quá trình hoạt động của TSCĐ. 15 do an + Giá trị hao mòn luỹ kế của tài sản cố định: là tổng cộng giá trị hao mòn của TSCĐ tính đến thời điểm báo cáo. + Khấu hao tài sản cố định: là việc tính toán và phân bổ một cách có hệ thống nguyên giá của TSCĐ vào chi phí sản xuất, kinh doanh trong thời gian trích khấu hao của TSCĐ.
+ Thời gian trích khấu hao TSCĐ: là thời gian cần thiết mà doanh nghiệp thực hiện việc trích khấu hao TSCĐ để thu hồi vốn đầu tư TSCĐ. + Số khấu hao lũy kế của tài sản cố định: là tổng cộng số khấu hao đã trích vào chi phí sản xuất, kinh doanh qua các kỳ kinh doanh của tài sản cố định tính đến thời điểm báo cáo. + Giá trị còn lại của tài sản cố định: là hiệu số giữa nguyên giá của TSCĐ và số khấu hao luỹ kế (hoặc giá trị hao mòn luỹ kế) của TSCĐ tính đến thời điểm báo cáo.2 Phân loại TSCĐ TSCĐ của một doanh nghiệp thường rất đa dạng, nó được phân loại theo nhiều nguồn khác nhau như phân theo công dụng kinh tế, nguồn hình thành, tính chất sở hữu…. Để tạo điều kiện cho công tác quản lý và hạch toán TSCĐ thì việc phân loại TSCĐ được phân loại nhiều tiêu thức khác nhau trong đó phổ biến nhất là phân loại theo tính chất và đặc trưng kỹ thuật của tài sản.
Theo đó, TSCĐ được phân chia thành TSCĐ hữu hình, TSCĐ vô hình và TSCĐ thuê tài chính. TSCĐ hữu hình: Theo như VAS 03 mục 06 nói về điều kiện ghi nhận TSCĐ hữu hình như sau: “Các tài sản được ghi nhận là TSCĐ hữu hình phải thỏa mãn đồng thời tất cả bốn (4) tiêu chuẩn ghi nhận sau: Chắc chắn thu được lợi ích kinh tế trong tương lai từ việc sử dụng tài sản đó; Nguyên giá tài sản phải được xác định một cách đáng tin cậy; Thời gian sử dụng ước tính trên 1 năm; 16 do an Có đủ tiêu chuẩn giá trị theo quy định hiện hành.” Kế toán TSCĐ hữu hình được phân loại theo nhóm tài sản có cùng tính chất và mục đích sử dụng trong hoạt động sản xuất, kinh doanh của doanh nghiệp, gồm: Nhà cửa, vật kiến trúc; Máy móc, thiết bị; Phương tiện vận tải, thiết bị truyền dẫn; Thiết bị, dụng cụ quản lý; Vườn cây lâu năm, súc vật làm việc và cho sản phẩm; TSCĐ hữu hình khác. TSCĐ vô hình: Theo như VAS 04 mục 16 nói về điều kiện ghi nhận TSCĐ vô hình như sau: “Các tài sản được ghi nhận là TSCĐ hữu hình phải thỏa mãn đồng thời 4 tiêu chuẩn ghi nhận sau: Chắc chắn thu được lợi ích kinh tế trong tương lai do tài sản đó mang lại; Nguyên giá tài sản phải được xác định một cách đáng tin cậy; Thời gian sử dụng ước tính trên 1 năm; Có đủ tiêu chuẩn giá trị theo quy định hiện hành.” Tài sản cố định vô hình bao gồm các loại, như: Quyền sử dụng đất có thời hạn, Phần mềm máy vi tính, Bằng sáng chế, bản quyền, Giấy phép khai thác thuỷ sản, hạn ngạch xuất khẩu, hạn ngạch nhập khẩu, Giấy phép nhượng quyền, Quan hệ kinh doanh với khách hàng hoặc nhà cung cấp, sự trung thành của khách hàng, thị phần và quyền tiếp thị.3 Đặc điểm TSCĐ và CPKH Theo như mục I/ trang 407-408 của Sách Kiểm toán của Trường Đại học Kinh tế TP.HCM thì “TSCĐ là một khoản mục có giá trị lớn, thường chiếm tỷ trọng đáng kể so với tổng tài sản trên Bảng CĐKT. Đặc biệt, trong các doanh nghiệp sản xuất thuộc lĩnh vực công nghiệp nặng, dầu khí.
giá trị của khoản mục này chiếm tỷ trọng rất cao trong tổng tài sản. TSCĐ được trình bày trên Bảng CĐKT tại phần B, Tài sản dài hạn, chủ yếu bao gồm Tài sản cố định hữu hình, tài sản cố định vô hình, tài sản cố định thuê tài chính.” Theo điều 3 của thông tư mới được cập nhật số 45/2013/TT-BTC thì TSCĐ phải thõa mãn đồng thời cả 3 tiêu chuẩn dưới đây: “* Chắc chắn thu được lợi ích kinh tế trong tương lai từ việc sử dụng tài sản đó; * Có thời gian sử dụng trên 1 năm trở lên; * Nguyên giá tài sản phải được xác định một cách và có giá trị từ 30.000 đồng (Ba mươi triệu đồng) trở lên.” Theo như mục I/ trang 408-409 của Sách Kiểm toán của Trường Đại học Kinh tế TP.HCM nói về đặc điểm của kiểm toán khoản mục TSCĐ và CPKH như sau: “Việc kiểm toán TSCĐ không chiếm nhiều thời gian vì: + Số lượng tài sản cố định thường không nhiều và từng đối tượng thường có giá trị lớn. + Số lượng nghiệp vụ tăng, giảm TSCĐ trong năm thường không nhiều. + Vấn đề khóa sổ cuối năm không phức tạp như tài sản ngắn hạn do khả năng xảy ra nhầm lẫn trong ghi nhận các nghiệp vụ về tài sản cố định giữa các niên độ thường không cao.” “Việc kiểm toán CPKH có hai đặc điểm như sau: + CPKH là một khoản ước tính kế toán, chứ không phải là chi phí thực tế phát sinh.
Bởi vì mức khấu hao phụ thuộc vào ba nhân tố là nguyên giá, giá trị thanh lý ước tính và thời gian sử dụng hữu ích; trong đó nguyên giá là nhân tố khách quan, 18 do an còn giá trị thanh lý và thời gian sử dụng hữu ích lại căn cứ theo ước tính của đơn vị. Vì vậy, việc kiểm toán CPKH mang tính chất kiểm tra một khoản ước tính kế toán hơn là một chi phí phát sinh thực tế, nghĩa là không thể dựa vào các chứng từ, tài liệu để tính toán chính xác được. + CPKH là một sự phân bổ có hệ thống của nguyên giá sau khi trừ giá trị thanh lý ước tính nên sự hợp lý của nó còn phụ thuộc vào phương pháp khấu hao được sử dụng. Vì vậy, kiểm toán CPKH còn mang tính chất của sự kiểm trâ về việc áp dụng phương pháp kế toán.2 Vấn đề KSNB đối với TSCĐ và CPKH tại doanh nghiệp 2.1 Mục đích của KSNB đối với TSCĐ Việc tìm hiểu mục đích của kiểm soát nội bộ đối với TSCĐ là một bước rất quan trọng trong giai đoạn thực hiện kiểm toán.
Theo mục II/ trang 410 của Sách Kiểm toán của Trường Đại học Kinh tế TP.HCM có nói: “Mục tiêu chính của KSNB là nâng cao hiệu quả sử dụng vốn đầu tư vào TSCĐ thông qua việc đầu tư đúng mục đích, không lãng phí, cũng như quản lý và sử dụng hiệu quả TSCĐ. Ngoài ra, KSNB còn giúp hạch toán đúng đắn các chi phí cấu thành nguyên giá TSCĐ, chi phí sữa chữa, chi phí khấu hao. Do các chi phí này đều quan trọng nên các sai sót có thể ảnh hưởng trọng yếu đến BCTC”. Biết được mục đích này sẽ giúp KTV không chỉ xác định được mức rủi ro kiểm soát mà còn làm cơ sở để KTV xác định phạm vi thực hiện các thử nghiệm cơ bản nhằm thu thập được các bằng chứng cần thiết.2 Các thủ tục kiểm soát TSCĐ và CPKH Các doanh nghiệp để quản lý tốt TSCĐ của mình thì cần có những quy tắc, quy định, những thủ tục kiểm soát để tránh tình trạng thất thoát tài sản, lãng phí thời gian và sử dụng tài sản một cách hiệu quả nhất.
Sau đây là những thủ tục kiểm soát mà các doanh nghiệp hay áp dụng cho đơn vị: 2.1 Áp dụng nguyên tắc phân chia trách nhiệm giữa các chức năng: 19 do an Những chức năng như bảo quản, ghi sổ, phê chuẩn, và thực hiện việc mua, thanh lý, nhượng bán TSCĐ cần được tách biệt với nhau. Người quản lý TSCĐ không đồng thời là kế toán TSCĐ. Đơn vị cần có những quy định rõ ràng về quyền hành của từng cấp bậc trong việc phê chuẩn các nghiệp vụ kinh tế liên quan tới TSCĐ như mua sắm TSCĐ mới, nhượng bán, thanh lý. Tránh tình trạng người phê chuẩn cũng là người ra quyết đinh mua bán, vì khi làm việc này cùng lúc sẽ dễ gây ra rủi ro lạm dụng quyền hành để mua bán TSCĐ.2 Kế hoạch dự toán về TSCĐ: Đây là một công cụ quan trọng để kiểm soát đối với TSCĐ.
Việc lập dự toán và kế hoạch sẽ giúp doanh nghiệp rà soát lại toàn bộ tình trạng TSCĐ hiện có và mức độ sử dụng chúng, đối chiếu với kế hoạch sản xuất của năm kế hoạch.