Chương 1: GIỚI THIỆU Chương 2: LÝ LUẬN CHUNG VỀ HOẠCH ĐỊNH NGÂN SÁCH VỐN ĐẦU TƯ Chương 3: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU & KẾT QUẢ Chương 4: KẾT LUẬN & MỘT SỐ KIẾN NGHỊ Bảo mật 5 CHƯƠNG 2 LÝ LUẬN CHUNG VỀ HOẠCH ĐỊNH NGÂN SÁCH VỐN ĐẦU TƯ 2. CÁC KHÁI NIỆM PHÂN LOẠI VÀ ĐẶC ĐIỂM VỀ ĐẦU TƯ 2. Khái niệm Trong hoạt động của một doanh nghiệp luôn sử dụng các nguồn lực về tài chính, lao động, tài nguyên thiên nhiên và các tài sản vật chất khác, nhằm trực tiếp hoặc gián tiếp tái sản xuất giản đơn hoặc tái sản xuất mở rộng các cơ sở vật chất của nền kinh tế thị trường, xuất phát từ những nhận định đó của kết quả đầu tư có thể nhận xét nhiều cách khác nhau về đầu tư: Theo nghĩa rộng: Đầu tư là sự hi sinh các giá trị các nguồn lực ở hiện tại để tiến hành các hoạt động kinh tế, nhằm thu về cho nhà đầu tư kết quả tốt nhất trong tương lai, giá trị đạt được phải lớn hơn giá trị đã bỏ ra trong hiện tại. Hình thức của các giá trị này là tiền, tài nguyên, sức lao động và trí tuệ… Các kết quả đạt được là sự gia tăng về tiền, tài sản cố định, tài sản vật chất, tài sản trí tuệ và nguồn lực.
Theo nghĩa hẹp: Đầu tư là bao gồm các hoạt động về việc sử dụng vốn trong quá trình hoạt động kinh doanh, nhằm mục đích đem lại giá trị cao hơn cho nhà đầu tư. Từ đó có thể nói Đầu tư là hoạt động sử dụng các nguồn lực tài chính, nguồn lực vật chất, về lao động trí tuệ để sản xuất kinh doanh trong một thời gian tương đối dài nhằm thu về lợi nhuận và lợi ích kinh tế xã hội. Phân loại đầu tư Trong thực tế, tuỳ từng gốc độ tiếp cận và theo những tiêu thức khác nhau có thể có những cách phân chia hoạt động đầu tư khác nhau: Đầu tư gián tiếp: là hình thức đầu tư trong đó người bỏ vốn không trực tiếp tham gia quản lý sử dụng vốn, điều hành quá trình thực hiện và vận hành kết quả đầu tư. Trong trường hợp các nhà đầu tư có thể được hưởng các lợi ích vật chất Bảo mật 6 (như cổ tức, tiền lãi trái phiếu), lợi ích phi vật chất (quyền biểu quyết, quyền tiên mãi) nhưng không được tham gia trực tiếp quản lý tài sản đã bỏ ra đầu tư.
Đầu tư trực tiếp: Là hình thức đầu tư trong đó người bỏ vốn trực tiếp tham gia quản lý, điều hành quá trình thực hiện và vận hành kết quả đầu tư. Đầu tư trực tiếp bao gồm đầu tư dịch chuyển và đầu tư phát triển. Trong đó đầu tư dịch chuyển là một hình thức đầu tư trực tiếp trong đó việc bỏ vốn là nhằm dịch chuyển quyền sở hữu giá trị của tài sản. Thực chất trong đầu tư dịch chuyển không có sự gia tăng giá trị của tài sản Đầu tư trong nước: Là việc bỏ vốn vào sản xuất kinh doanh tại Việt Nam, người Việt Nam định cư ra nước ngoài cư trú lâu dài tại Việt Nam.
Đầu tư trong nước nên chịu sự điều chỉnh của Luật đầu tư trong nước. Đầu tư nước ngoài tại Việt Nam: là loại đầu tư trực tiếp của người nước ngoài tại Việt Nam, là hình thức đầu tư mà người nước ngoài đưa vào Việt Nam vốn bằng tiền hoặc các tài sản khác để tiến hành các hoạt động đầu tư theo quy định của Luật đầu tư nước ngoài tại Việt Nam. Hình thức này càng về sau càng đa dạng về các lĩnh vực. Đầu tư Việt Nam ra nước ngoài: là loại đầu tư các cá nhân, tổ chức của Việt Nam chuyển vốn ra nước ngoài đầu tư.
Hiện nay, các hình thức này chiếm tỷ trọng chưa cao. Khái niệm Dự án bao gồm nhiều hoạt động phụ thuộc lẫn nhau nhằm mục đích cuối cùng là tạo ra sản phẩm hoặc dịch vụ. Trong tổng thể các hoạt động thì dự án bao gồm nhiều công việc mà kết quả của các công việc này kết thúc bằng một sản phẩm nào đó. Chẳng hạn như sản phẩm, kế hoạch, báo cáo… Khi thực hiện dự án các nhà đầu tư phải sử dụng các khoản chi tiêu và các nguồn lực gọi là chi phí thực hiện dự án.
Tuy nhiên các hoạt động này diễn ra trong Bảo mật 7 môi trường không chắc chắn. Khi xét đến môi trường của dự án không phải môi trường hiện tại mà là môi trường tương lai. Dự án có hai yếu tố chính: Dự án là một phương thức hoạt động có hiệu quả: Trong thực tế dự án là một hoạt động có kế hoạch trước, kế hoạch này được kiểm tra chính xác từng hoạt động một để dự án được thực hiện có hiệu quả. Dự án là tiền đề của sự đổi mới và phát triển.
Để tạo dự án mang tính khả thi cần sự nổ lực của nhà cung cấp để tạo ra sản phẩm, dịch vụ. Một hoạt động khôn ngoan là hoạt động theo dự án, những hoạt động này đã được lên kế hoạch trước và có đủ nguồn lực để đảm bảo sự thành công của dự án. Dự án là một hệ thống: Tính hệ thống của dự án được xuất phát theo những căn cứ sau đây: - Những hoạt động để thực hiện dự án có mối quan hệ và chi phối lẫn nhau theo một logic nhất định. Nếu trong quá trình thực hiện dự án một công việc không được thực hiện hay thực hiện không đúng tiến độ và chất lượng thì sẽ ảnh hưởng không tốt đến công việc còn lại và dẫn đến dự án đó không đạt được hiệu quả cao.
- Mỗi một dự án đều có một mục tiêu hoạt động riêng nhằm tạo ra sự hạn định về các phương diện của dự án. Chúng có mối quan hệ chặt chẽ với môi trường, điều cho thấy dự án không chỉ là hệ thống của kỹ thuật mà còn là một hệ thống xã hội. Hệ thống này được trao đổi giữa con người và môi trường bên ngoài. Từ đó ta có khái niệm chung của dự án đầu tư: Dự án đầu tư là một tập hợp các đề xuất có liên quan đến việc bỏ vốn ra đầu tư của các nhà đầu tư.
Các nguồn vốn này được sử dụng để tạo mới, mở rộng hoặc cải tạo một đối tượng nào đó, nhằm mục đích đem lại sự tăng trưởng cả về mặt số lượng và chất lượng của sản phẩm hay dịch vụ được tạo ra trong dự án. Đặc điểm dự án đầu tư: Để xem xét tốt một dự án đầu tư, các nhà đầu tư phải dựa trên nhiều gốc độ khác nhau do đặc điểm của việc đầu tư rất phức tạp về các mặt kỹ thuật, mục tiêu, kết quả… Do vậy các đặc điểm cụ thể như sau: Bảo mật 8 - Về mặt hình thức: Dự án là một bộ hồ sơ tài liệu trình bày một cách chi tiết và có hệ thống, về các hoạt động và chi phí theo kế hoạch, để được một kết quả tốt nhất trong quá trình thực hiện dự án cũng như lợi nhuận sẽ đạt được trong tương lai. - Về mặt nội dung của dự án: nội dung của dự án là một tập hợp các hoạt động liên quan hữu cơ với nhau, chúng được hoạch định để nhằm đạt được một kết quả cụ thể cho từng trường hợp cụ thể. - Về mặt quản lý: Thông qua dự án các nhà đầu tư có thể quản lý về việc sử dụng vốn, vật tư, trang thiết bị … Nhằm mục đích đem lại kết quả tốt về tài chính và kinh tế trong thời gian dài.
- Về mặt kế hoạch: Dự án là một trong những phương thức thể hiện chi tiết các kế hoạch của nhà đầu tư. Dự án đầu tư là một hoạt động nhỏ nhất trong công tác kế hoạch hoá nền kinh tế quốc dân. Như vậy, dự án đầu tư không phải là một ý định hay một phác thảo sơ bộ, mà là một đề xuất có tính chiến lược và có mục tiêu rõ ràng nhằm tận dụng hợp lý các cơ hội đầu tư để tạo ra được nhiều lợi nhuận. HOẠCH ĐỊNH NGÂN SÁCH VỐN 2.
Dự thảo ngân sách vốn: Dự thảo ngân sách vốn là quá trình lập kế hoạch cho việc mua sắm thu nhập từ các tài sản này dự kiến kéo dài quá một năm. Đầu tư vốn có tác động dài hạn đối với thành quả của một doanh nghiệp. Dự báo đúng nhu cầu vốn có thể đảm bảo được năng lực sản xuất để đáp ứng được các nhu cầu trong tương lai của doanh nghiệp. Có bốn bước cơ bản trong quá trình dự thảo ngân sách vốn: đưa ra các đề xuất, đánh giá các dòng tiền, thẩm định các khả năng lựa chọn; đánh giá chi phí sử dụng vốn dùng để chiết khấu dòng tiền, chọn lựa các dự án và kiểm tra sau khi thực hiện.
Phân loại ngân sách vốn: 2. Phân loại dựa vào tính chất hoạt động Bảo mật 9 Căn cứ vào tính chất hoạt động của dự án, ngân sách của một đơn vị, một tổ chức… được phân thành ngân sách phân theo dự án và ngân sách cho các hoạt động không theo dự án. Ngân sách được phân theo dự án Là ngân sách được trình bày một cách chi tiết về các khoản thu và chi của từng công việc cụ thể. Ngân sách cho các hoạt động không phân theo dự án: Là hình thức phản ánh các khoản thu chi khác của tổ chức, đơn vị thực hiện dự án.
Trong thực tế các nguồn ngân sách này liên quan đến hoạt động của các phòng chức năng, các khoản thu chi bất thường của các tổ chức. Phân loại dựa vào thời gian thực hiện: Ngân sách dài hạn: Là toàn bộ ngân sách được dự trù cho các hoạt động của tổ chức, đơn vị trong thời gian tương đối dài (thường là vài năm). Đối với những dự án dài hạn thì công việc xây dựng ngân sách cũng là ngân sách toàn bộ của dự án. Ngân sách ngắn hạn: Là sự cụ thể hoá ngân sách dài hạn trong khoảng thời gian ngắn hơn.
Thông thường loại ngân sách này được lập theo tháng, theo quý. Công việc xây dựng ngân sách ngắn hạn gắn liền với từng nhiệm vụ, từng công việc phải hoàn thành trong thời gian ngắn, như các khoản chi phí về nhân công, nguyên vật liệu, các chi phí khác… 2. Quá trình hoạch định ngân sách vốn: 2. Các đề xuất về dự án đầu tư: Các ý tưởng về đầu tư vốn mới có thể đến từ nhiều nguồn, cả trong nội bộ cũng như từ bên ngoài doanh nghiệp.
Các đề xuất có thể xuất phát từ các cấp của tổ chức – từ các công nhân xí nghiệp cho đến hội đồng quản trị.