Tổng quan luận án
Luận án Phó tiến sĩ Khoa học kỹ thuật chuyên ngành Quy hoạch không gian và xây dựng đô thị (Mã số: 2.05) với đề tài "Kiến trúc nông thôn vùng Đồng bằng Bắc Bộ (Những vấn đề quy hoạch kiến trúc và kiểu kiến trúc nhà ở)" do tác giả Nguyễn Sĩ Quế thực hiện tại Trường Đại học Xây dựng Hà Nội năm 1995, dưới sự hướng dẫn của PGS.TS. Lâm Quang Cường và PGS.TS. Nguyễn Kim Luyện.
Tính cấp thiết và khoảng trống nghiên cứu
Dân cư nông thôn Việt Nam chiếm tỷ lệ lớn, xấp xỉ 80% dân số toàn quốc, trong đó Đồng bằng Bắc Bộ (ĐBBB) là địa bàn trọng điểm về mật độ dân số và truyền thống văn hóa. Sau thời kỳ Đổi mới (1986) và cơ chế Khoán 10 trong nông nghiệp, phương thức sản xuất thay đổi căn bản từ mô hình hợp tác xã tập trung sang kinh tế hộ gia đình tự chủ. Sự thay đổi phương thức sản xuất kéo theo sự biến đổi về phương thức sống và nhu cầu xây dựng nhà ở nông thôn. Tuy nhiên, các nghiên cứu kiến trúc trước đây chủ yếu tập trung vào khu vực đô thị hoặc các công trình tín ngưỡng cổ truyền, trong khi kiến trúc và quy hoạch nhà ở nông thôn chưa được khảo sát đồng bộ. Tình trạng tự xây dựng thiếu định hướng quy hoạch dẫn đến nguy cơ phá vỡ cảnh quan sinh thái, thiếu tiện nghi vệ sinh và không thích ứng với các biến đổi kinh tế - xã hội mới.
Mục tiêu nghiên cứu
Luận án xác định 3 mục tiêu cụ thể:
- Đóng góp một số luận điểm về sự đổi mới lý thuyết quy hoạch nông thôn, xác lập nguyên tắc kết hợp quy hoạch từ trên xuống (về mạng lưới hạ tầng kỹ thuật và phân vùng chức năng) và từ dưới lên (về phân bổ đất ở theo cơ cấu các tầng lớp xã hội).
- Xây dựng hệ thống sơ đồ công năng và cấu trúc không gian kiến trúc ở nông thôn ĐBBB theo các vùng địa lý sinh thái đặc thù.
- Đưa ra trình tự phương pháp luận nghiên cứu và thiết kế khu ở, mẫu kiến trúc nhà ở phù hợp với điều kiện kinh tế, xã hội và tự nhiên của vùng ĐBBB.
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: Kiến trúc và quy hoạch nhà ở nông thôn vùng Đồng bằng Bắc Bộ, bao gồm cấu trúc khuôn viên hộ gia đình (nhà chính, nhà phụ, sân, vườn, ao, chuồng trại) và mối liên kết không gian làng xã.
- Phạm vi không gian: Toàn bộ địa bàn vùng ĐBBB với các tiểu vùng địa hình: vùng ngập lũ ven sông, vùng chiêm trũng, vùng ven biển bãi bồi, vùng làng nghề, vùng thuần nông, vùng du lịch di tích, vùng thị tứ buôn bán, vùng đồi gò và vùng nông trường quốc doanh.
- Phạm vi thời gian: Khảo sát tiến trình lịch sử từ thời Hùng Vương, Bắc thuộc, phong kiến độc lập (Lý, Trần, Hồ, Lê, Nguyễn), thời kỳ Pháp thuộc, giai đoạn hòa bình lập lại (cải cách ruộng đất, hợp tác hóa) và trọng tâm là giai đoạn Đổi mới từ sau năm 1986 đến năm 1995.
Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án
Luận án điểm lại các nhóm công trình nghiên cứu trong và ngoài nước liên quan đến nông thôn ĐBBB:
- Giai đoạn trước năm 1945: Các nghiên cứu xã hội học, dân tộc học và phong tục của Nguyễn Đồng Chi, Vũ Ngọc Phan, Toan Ánh, Phan Kế Bính; tác phẩm "Vấn đề dân cày" của Qua Ninh và Vân Đình (Trường Chinh và Võ Nguyên Giáp); các tài liệu khảo cứu địa lý, nhân văn của học giả phương Tây như Pierre Gourou ("Les paysans du Delta Tonkinois", 1936); các bản đạc họa kiến trúc chùa chiền, đền miếu của Viện Viễn Đông Bác Cổ (EFEO). Tác giả nhận định các công trình này chủ yếu phác thảo bức tranh xã hội, dân tộc học, chưa đi sâu vào khía cạnh tổ chức không gian kiến trúc nhà ở dân gian.
- Giai đoạn 1954–1985: Bác Hồ gửi thư cho Hội nghị thành lập Đoàn Kiến trúc sư năm 1948 nhấn mạnh việc tìm kiểu nhà nông thôn "giản dị, cao ráo, sáng sủa và rẻ tiền". Các đồ án thí điểm cải tạo làng xã tại thôn Đào Viên, xã Đại Phong, xã Định Công; các công trình nghiên cứu của Nguyễn Đức Thiềm về cấu trúc gian - vì kèo, sân truyền thống và tiểu hệ sinh thái ao - vườn; các nghiên cứu của Đặng Thái Hoàng, Nguyễn Văn Than, Trần Anh Tú; Chương trình Nhà ở của Bộ Xây dựng trong thập niên 1980 do GS. Phạm Văn Trình chủ trì; các nghiên cứu về quy hoạch mạng lưới dân cư huyện của Lâm Quang Cường, Trương Quang Thao.
- Nghiên cứu quốc tế: Các mô hình quy hoạch nông thôn tại Pháp, CHLB Đức, Thái Lan, Hàn Quốc, Liên Xô cũ. Tác giả chỉ ra rằng các mô hình này được xây dựng trên điều kiện tự nhiên và trình độ kinh tế - xã hội khác biệt, không thể áp dụng nguyên bản vào ĐBBB.
Khoảng trống nghiên cứu: Hầu hết các nghiên cứu trước đây được thực hiện trong bối cảnh kinh tế bao cấp hoặc tiếp cận thuần túy về mặt hình thức kiến trúc cổ truyền. Luận án lựa chọn giải quyết khoảng trống về phương pháp luận quy hoạch phân vùng sinh thái - kinh tế cấp cơ sở kết hợp tổ chức khuôn viên nhà ở gắn với sự phân tầng kinh tế hộ gia đình sau khi thực hiện Khoán 10.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Khung lý thuyết và khái niệm sử dụng
- Mối quan hệ biện chứng giữa phương thức sản xuất và phương thức sống: Khi cơ chế quản lý chuyển sang kinh tế hộ gia đình, cấu trúc không gian ở nông thôn phải chuyển đổi từ mô hình phục vụ lao động tập thể sang mô hình tích hợp sản xuất - sinh hoạt gia đình (mô hình V-A-C: Vườn - Ao - Chuồng kết hợp Nhà - Sân).
- Lý thuyết quy hoạch tích hợp hai chiều: Kết hợp quy hoạch vĩ mô "từ trên xuống" (hệ thống hạ tầng kỹ thuật, đường giao thông, cấp thoát nước, phân vùng trung tâm công cộng liên xã/huyện) và quy hoạch vi mô "từ dưới lên" (quy mô lô đất, nhu cầu chức năng theo sự phân tầng mức sống và loại hình ngành nghề của từng hộ).
- Thức kiến trúc và thước tầm truyền thống: Luận án dựa trên lý thuyết về tỷ lệ kiến trúc dân gian ĐBBB. Đơn vị mô-đun tính toán bộ vì kèo xác định theo tỷ lệ đứng/ngang = 2/3 (độ dốc mái ngói $i = 66,6%$ hoặc $60%$; mái rạ tranh $i = 70 - 75%$). Hệ thống kích thước toàn bộ ngôi nhà được mã hóa trên "thước tầm" (sào mực, thước mực) dựa trên đốt gốc ngón tay út của chủ nhà (chiều dài 1 thước xấp xỉ 0,4m).
Phương pháp nghiên cứu thực tế
- Phương pháp điều tra, khảo sát thực địa: Thu thập số liệu kinh tế - xã hội, địa hình, thủy văn, đo đạc kích thước thực tế các ngôi nhà dân gian và ghi chép thước tầm tại các làng xã thuộc Hà Tây, Hải Hưng, Thái Bình, Nam Hà, Ninh Bình, Hà Bắc, Hải Phòng, ngoại thành Hà Nội.
- Phương pháp phân tích lịch sử - so sánh: Đối chiếu sự biến đổi không gian nhà ở qua các thời kỳ lịch sử và so sánh hình thái quần cư giữa các tiểu vùng địa lý trong ĐBBB.
- Phương pháp mô hình hóa và điển hình hóa: Thiết kế sơ đồ nguyên tắc quy hoạch điểm dân cư và lập bảng vẽ kiến nghị các mẫu nhà ở 1-2 tầng theo phân tầng kinh tế và tính chất nghề nghiệp.
Nguồn tư liệu và dữ liệu
- Bản vẽ đo đạc thực tế công trình kiến trúc cổ (như nhà Quan công Đỗ Thủy Nguyên thời Mạc tại làng Nội Duệ - Tiên Sơn - Bắc Ninh; các nhà dân gian tại Thanh Trì - Hà Nội, Nam Hà, Hà Tây).
- Thước tầm nguyên bản: Thước tầm nhà ông Đích (thôn Hoàng, Kim Thi, Hải Hưng - sử dụng từ 1944) và thước tầm nhà ông Phạm Minh Cương (Vạn Tường, Hà Bắc - sử dụng từ 1938).
- Tư liệu từ Chương trình cấp Nhà nước về đô thị hóa và nông thôn (28A-01-01), Đề tài cấp Bộ về xây dựng huyện nông - công nghiệp, Đề tài kỹ thuật phục vụ nông thôn (B94-KTNT), Niên giám thống kê và văn bản pháp quy lịch sử (Luật Gia Long, Văn kiện Đại hội Đảng VII).
Nội dung chính theo từng chương
Chương I: Khái quát về nông thôn ĐBBB - Điều kiện và quá trình hình thành nhà ở nông thôn vùng ĐBBB
Chương I trình bày tổng quan điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội và lịch sử tiến hóa của kiến trúc nhà ở ĐBBB:
- Điều kiện tự nhiên và địa lý: ĐBBB có diện tích khoảng 14.700 km², độ dốc 4–5 cm/km, độ cao bình quân 10m so với mực nước biển Đông, trải dài 220 km từ trung du ra biển. Vùng chiếm 5,2% diện tích tự nhiên, 35% dân số toàn quốc (gần 20 triệu người), 21,8% nguồn lao động, 24,8% thu nhập quốc dân, 21,2% sản lượng nông nghiệp và 140 làng nghề truyền thống. Hệ thống đê điều có tổng chiều dài 1.600 km, chiều cao đê từ 2,5m đến 14m (tại Việt Trì), bề rộng mặt đê 6–10m, chân đê 30–35m; đất trong đê 423.000 ha, đất chua mặn 328.000 ha. Khí hậu nhiệt đới gió mùa có mùa đông lạnh, nhiệt độ trung bình năm 22–23°C (tháng 1 trung bình 15,5°C, cực tiểu 2,7°C năm 1955; tháng nóng nhất 33–37°C, cực đại 42,8°C), lượng mưa 1.600–1.800 mm/năm, chịu ảnh hưởng trực tiếp từ 8–13 cơn bão/năm, độ ẩm trung bình 80%, có hiện tượng nồm ẩm và mưa phùn cuối đông.
| Tỉnh / Thành phố |
Số thành phố |
Số thị xã |
Số thị trấn huyện lỵ |
Mật độ dân số (người/km²) |
Ghi chú |
| Hà Nội |
1 |
- |
13 |
10.232 |
Thành phố là Thủ đô |
| Hà Tây |
- |
2 |
6 |
725 |
Hà Đông (thủ phủ), Sơn Tây (thị xã) |
| Hải Hưng |
- |
2 |
9 |
1.010 |
Hải Dương (thủ phủ), Hưng Yên (thị xã) |
| Thái Bình |
- |
1 |
8 |
1.015 |
Thị xã Thái Bình là thủ phủ |
| Nam Hà |
1 |
1 |
9 |
695 |
Nam Định (thủ phủ), Hà Nam (thị xã) |
| Ninh Bình |
- |
2 |
6 |
586 |
Ninh Bình (thủ phủ), Tam Điệp (thị xã) |
| Hải Phòng |
1 |
2 |
9 |
712 |
Đồ Sơn, Kiến An là thị xã |
- Tiến trình lịch sử kiến trúc nhà ở:
- Thời Hùng Vương: Nước Văn Lang (hình thành 2879 TCN), dân số 92.237 khẩu (trung bình 8 người/hộ). Tác giả lý giải người Việt ĐBBB không sử dụng nhà sàn như vùng núi hay Nam Bộ do địa hình bằng phẳng, ngập lũ dài ngày và gió bão lớn khiến kết cấu nhà sàn kém ổn định; cư dân lựa chọn đắp nền đất cao để dựng nhà trệt.
- Thời Bắc thuộc: Xuất hiện cấu trúc trang ấp 9–12 phòng có tường bao quanh, lầu gác ở góc vườn; du nhập kỹ thuật nung gạch ngói, vữa vôi và cuốn cửa vòm (thế kỷ 6).
- Thời phong kiến (Lý - Trần - Lê - Nguyễn): Thời Trần đắp đê ngăn mặn mở rộng điền trang. Thời Hồ thực hiện chính sách hạn điền (thứ dân sở hữu ruộng dưới 10 mẫu, nô tỳ không có đất). Thời Nguyễn, Doanh điền sứ Nguyễn Công Trứ (1828) tổ chức khai hoang lập hai huyện Kim Sơn (Ninh Bình) và Tiền Hải (Thái Bình) với hơn 4 vạn mẫu ruộng và hơn 4.000 đinh. Điều 156 Luật Gia Long hạn chế nghiêm ngặt kiến trúc dân gian: cấm xây nền hai cấp hoặc chồng hai mái, cấm sơn son thếp vàng, nhà thứ dân không được vượt quá 3 gian 5 vì kèo, cấm bố cục mặt bằng chữ Công và chữ Môn.
- Thời Pháp thuộc: Cơ cấu ruộng đất phân hóa sâu sắc. Tầng lớp điền chủ chiếm 2–4% dân số nắm 15% đất canh tác; 70% nông dân nắm 70% đất nhưng manh mún; ruộng công chiếm 15%. Khoảng 60% hộ là trung nông lớp dưới ở nhà tranh vách đất; nhà ngói chỉ chiếm 2–5% (toàn xã) hoặc 10–30% ở các vùng khá giả. Chi phí làm nhà trung nông thời kỳ trước 1950 ước tính tương đương 100 công thợ mộc (~100 USD), tổng chi phí cơ ngơi khoảng 500–1.000 USD.
- Giai đoạn sau 1954 đến Đổi mới: Cuộc cải cách ruộng đất chia lại đất ở, xóa bỏ bất bình đẳng; giai đoạn Hợp tác hóa quy hoạch lại đồng ruộng, mạng lưới thủy nông và trung tâm công cộng (trường học, trạm xá, nhà kho). Sau năm 1986 và Nghị quyết 10, nông dân được giao đất lâu dài, thúc đẩy phong trào ngói hóa và xây nhà kiên cố (hơn 70% hộ có điện lưới, phủ sóng truyền hình toàn vùng, than bánh thay thế chất đốt rơm rạ).
Chương II: Tổ chức không gian ở cho môi trường nông thôn ĐBBB
Chương II phân tích các nhân tố tác động và nguyên tắc tổ chức không gian khuôn viên ở:
- Chuyển dịch phương thức sống và phân tầng xã hội: Nông thôn ĐBBB phân hóa thành 3 nhóm hộ: hộ khá giả/giàu có, hộ trung bình và hộ nghèo khó. Cơ cấu gia đình chuyển từ đại gia đình truyền thống sang gia đình hạt nhân (quy mô 4–6 người đối với hộ hoàn chỉnh và 2–3 người đối với hộ phụ/neo đơn), tạo ra nhu cầu tách hộ và chia lô đất ở mới.
- Cơ cấu tổ chức khuôn viên hộ gia đình: Khuôn viên ở nông thôn ĐBBB là một chỉnh thể sinh thái bao gồm:
- Nhà chính: Bố cục 3 gian hoặc 5 gian. Gian giữa là không gian mở dành cho bàn thờ tổ tiên và tiếp khách; các gian bên bố trí giường ngủ và phản gỗ.
- Nhà phụ: Bố trí vuông góc với nhà chính (tạo thành dạng chữ Đinh hoặc chữ L), gồm bếp nấu, kho chứa nông cụ, lương thực và khu chế biến nghề phụ.
- Sân gạch: Khoảng không gian đệm đa năng phía trước nhà chính dùng để phơi nông sản, tổ chức sinh hoạt gia đình và các sự kiện hiếu hỷ.
- Vườn cây và ao cá: Cung cấp thực phẩm, tạo cảnh quan và cải thiện vi khí hậu. Ao còn đóng vai trò lấy đất đắp nền nhà và chứa nước mưa tưới tiêu.
- Khu chăn nuôi và vệ sinh: Chuồng lợn, chuồng trâu bò, hố xí được bố trí cách ly phía cuối hướng gió chủ đạo để ngăn mùi xú uế.
- Giải pháp xử lý vi khí hậu truyền thống: Hướng nhà chính ưu tiên hướng Nam hoặc Đông Nam để đón gió mát mùa hè và tránh gió mùa Đông Bắc lạnh khô; khoảng hiên rộng che nắng chiếu xiên và ngăn mưa hắt; nền nhà tôn cao 0,6m chống ẩm và giảm bức xạ nhiệt từ mặt sân.
Chương III: Giải pháp quy hoạch và kiến trúc nhà ở cho vùng ĐBBB - Kiến nghị một số mẫu nhà
Chương III đưa ra giải pháp quy hoạch phân vùng và các mẫu thiết kế kiến trúc điển hình:
-
Phân loại 9 vùng quy hoạch quần cư nông thôn ĐBBB:
- Vùng 1 (Vùng ven sông ngập lũ): Quy hoạch cụm dân cư có đê bao, tôn nền cao; kiến trúc nhà có gác lửng/tầng 2 để tránh lũ lớn; bố trí bến đỗ thuyền và sàn nâng bảo vệ gia súc, nông sản.
- Vùng 2 (Vùng đồng trũng chiêm trũng): Quy hoạch theo cụm liên xóm; đào ao bao quanh lấy đất đắp tôn nền khuôn viên; nhà ở kết hợp sân trước, sân sau, vườn trên dải đất cao và ao thả cá liên hoàn.
- Vùng 3 (Vùng ven biển bãi bồi ngăn mặn): Bố cục mạng lưới đường và lô đất theo ô cờ bám các tuyến đê lấn biển; thiết kế rặng phi lao chắn gió bão, cát bay; hệ thống mương cấp nước ngọt thau chua rửa mặn; nhà bố trí bể nước mưa dung tích lớn; kết cấu tường dày, mái thấp chống bão.
- Vùng 4 (Vùng làng nghề truyền thống và bán chuyên nghiệp): Lô đất dạng chia lô kéo dài; không gian ở kết hợp xưởng gia công nghề phụ, kho vật tư; hiên rộng mở ra sân phơi sản phẩm; đường trục làng mở rộng cho xe cơ giới vận chuyển.
- Vùng 5 (Vùng thuần nông nghiệp thâm canh lúa nước): Trung tâm xã tập trung trạm máy kéo cơ giới, sân phơi, kho HTX, trường PTCS, trạm y tế; nhà ở có chuồng trại gia súc lớn (trâu, bò) với lối đi riêng biệt lập.
- Vùng 6 (Vùng di tích lịch sử, cảnh quan du lịch): Phân định nghiêm ngặt khu vực cấm xây dựng bảo vệ di tích và vùng đệm cận thiên nhiên; nhà ở hộ làm dịch vụ du lịch kết hợp sân vườn sinh thái, hình thức mái ngói hài hòa với cảnh quan cổ kính.
- Vùng 7 (Vùng thị tứ, trung tâm buôn bán dịch vụ ven trục lộ): Nhà ở dạng chia lô tiếp giáp mặt đường; tầng 1 kết hợp cửa hàng dịch vụ phía trước, khu ở phía sau; tầng 2 bố trí phòng ngủ và sân phơi trên mái.
- Vùng 8 (Vùng kinh tế đồi gò ven trung du): Khuôn viên quy mô lớn kết hợp mô hình kinh tế trang trại vườn đồi (rừng cây, vườn quả); kiến trúc nhà bám theo sườn dốc địa hình.
- Vùng 9 (Vùng nông trường quốc doanh): Quy hoạch hạt nhân trung tâm gồm trụ sở nông trường, trạm máy kéo, bệnh xá; khu ở chia thành hai dạng: nhà ở thấp tầng độc lập có sân vườn cho hộ công nhân và cụm nhà ở trang trại tập trung.
-
Hệ thống mẫu kiến trúc nhà ở kiến nghị: Luận án thiết kế chi tiết mặt bằng, mặt cắt, mặt đứng và phối cảnh các mẫu nhà 1-2 tầng phân loại theo quy mô diện tích lô đất và nhân khẩu:
- Hộ khá giả (5–7 người): Diện tích lô đất từ 300–400 m² (vùng 4, 6, 8) hoặc lên tới 1.300–1.400 m² (vùng 1); nhà 2 tầng khung bê tông cốt thép kết hợp mái ngói, có gara xe cơ giới, phòng khách rộng, 3–4 phòng ngủ, khu vệ sinh khép kín và hệ thống sân vườn VAC hoàn chỉnh.
- Hộ trung bình (4–6 người): Diện tích lô đất từ 180–300 m² (vùng 2, 7, 8) hoặc 1.000–1.200 m² (vùng 1); nhà 1 tầng mái ngói hoặc 2 tầng đơn giản, có sân phơi, hiên làm nghề phụ, chuồng gia súc và giếng nước riêng.
- Hộ nghèo khó (2–3 người): Diện tích lô đất từ 80–120 m²; bố cục nhà cấp 4 gồm 1 gian đa năng kết hợp ngủ, tiếp khách, chái bếp nhỏ và sân phơi tối thiểu.
Kết quả và những đóng góp mới
Đóng góp mới về mặt lý luận
- Xác lập phương pháp luận quy hoạch nông thôn mới theo nguyên tắc kết hợp hai chiều "từ trên xuống" (hạ tầng, phân vùng chức năng) và "từ dưới lên" (nhu cầu đất ở theo phân tầng xã hội và phương thức kinh tế hộ).
- Hệ thống hóa các đặc trưng cấu trúc kiến trúc truyền thống ĐBBB (hệ mô-đun gian - vì kèo, độ dốc mái 2/3, thước tầm) và chứng minh khả năng kế thừa các quy luật vi khí hậu trong thiết kế kiến trúc hiện đại.
- Xây dựng khung phân loại không gian định cư nông thôn ĐBBB thành 9 phân vùng sinh thái - kinh tế chuyên biệt.
Đóng góp mới về mặt thực tiễn
- Đề xuất hệ thống sơ đồ nguyên tắc quy hoạch tổng thể mặt bằng làng xã và cụm điểm dân cư cho 9 phân vùng địa lý ĐBBB.
- Cung cấp tập hợp các mẫu thiết kế nhà ở nông thôn (mặt bằng phân khu chức năng, mặt đứng, mặt cắt) tương thích với từng nhóm phân tầng xã hội (khá giả, trung bình, nghèo) và ngành nghề (thuần nông, tiểu thủ công nghiệp, thương mại, dịch vụ du lịch).
- Đề xuất giải pháp cải thiện hạ tầng kỹ thuật vi mô: tách biệt khu phụ ô nhiễm, xử lý nước sinh hoạt bằng giếng thơi/bể nước mưa và mô hình hố xí hợp vệ sinh.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
- Hạn chế: Luận án tập trung khảo sát phạm vi không gian vùng Đồng bằng Bắc Bộ trong giai đoạn chuyển đổi đầu thời kỳ Đổi mới (cuối thập niên 1980 - đầu thập niên 1990); chưa có điều kiện so sánh định lượng sâu với các vùng sinh thái đặc thù khác như Đồng bằng sông Cửu Long hay vùng duyên hải Miền Trung. Các giải pháp mẫu nhà chủ yếu dựa trên khảo sát thực nghiệm và điều tra xã hội học định tính kết hợp phân tích kiến trúc công trình.
- Hướng nghiên cứu tiếp: Theo dõi diễn biến đô thị hóa tại các làng ven đô; hoàn thiện hệ thống quy chuẩn, tiêu chuẩn thiết kế kiến trúc điểm dân cư nông thôn mới; nghiên cứu công nghệ vật liệu xây dựng mới tại chỗ và giải pháp kỹ thuật xử lý rác thải, nước thải cụm làng nghề.
Giá trị tham khảo
- Đối với nghiên cứu sinh, học viên cao học và giảng viên: Cung cấp tài liệu tham khảo chuyên ngành về lịch sử tiến hóa kiến trúc nhà ở dân gian ĐBBB, cấu trúc thước tầm và phương pháp luận phân vùng quy hoạch nông thôn.
- Đối với cơ quan quản lý và quy hoạch: Cung cấp cơ sở khoa học cho Viện Quy hoạch Đô thị và Nông thôn, Sở Xây dựng các tỉnh ĐBBB (Hà Nội, Hà Tây, Hải Dương, Hưng Yên, Thái Bình, Nam Định, Ninh Bình, Hải Phòng) trong việc lập đồ án quy hoạch xây dựng cấp huyện, xã và ban hành mẫu nhà ở nông thôn.
- Phần đáng tham khảo nhất: Hệ thống sơ đồ nguyên tắc quy hoạch 9 phân vùng sinh thái và bảng vẽ chi tiết các mẫu nhà ở kết hợp mô hình sản xuất VAC trong Chương III.
Câu hỏi thường gặp
1. Vì sao người Việt cổ vùng Đồng bằng Bắc Bộ không sử dụng nhà sàn như một số dân tộc miền núi hoặc cư dân Nam Bộ?
Theo khảo cứu của tác giả, cư dân ĐBBB không sử dụng nhà sàn vì địa bàn đồng bằng có lũ lụt lớn tràn vào lâu ngày, bão to và gió giật mạnh khiến kết cấu nhà sàn bằng gỗ tranh tre không đảm bảo ổn định chịu lực. Do đó, người Việt ĐBBB chấp nhận nền đất ẩm và đắp nền cao để dựng nhà trệt kiên cố.
2. Điều 156 của Luật Gia Long quy định những giới hạn cụ thể nào đối với nhà ở của dân thường?
Điều 156 Luật Gia Long quy định: Nhà ở của thứ dân không được xây trên nền hai cấp hay làm chồng hai mái, không được sơn vẽ và không được trang trí; quy mô không được vượt quá 3 gian 5 vì kèo; cấm làm nhà có mặt bằng chữ Công hoặc chữ Môn; cấm sử dụng các màu vàng, đỏ, xanh, tím tươi và cấm chạm khắc các hình tượng rồng, hổ, rùa, phượng cũng như các loại gỗ quý.
3. Thước tầm trong kiến trúc nhà gỗ truyền thống ĐBBB được lập như thế nào và có ý nghĩa gì?
Thước tầm (sào mực) được người thợ cả lập dựa trên đơn vị đo cơ bản là đốt gốc ngón tay út của chủ nhà; 1 thước gồm 10 đơn vị cơ bản (chiều dài khoảng 0,4m). Toàn bộ kích thước 3 chiều và vị trí liên kết mộng của bộ khung gỗ được khắc dấu trực tiếp trên thước tầm. Quy ước này giúp mọi hiệp thợ mộc có thể tu sửa hoặc dựng lại ngôi nhà chuẩn xác mà không cần bản vẽ thiết kế trên giấy.
4. Luận án phân loại ĐBBB thành bao nhiêu vùng quy hoạch và giải pháp cho vùng ngập lũ hoặc vùng ven biển là gì?
Luận án phân loại ĐBBB thành 9 phân vùng quy hoạch. Trong đó:
- Vùng 1 (ngập lũ ven sông): Áp dụng giải pháp tôn cao nền, làm bờ bao, thiết kế nhà có gác lửng/tầng 2 phòng lũ và bến đỗ thuyền.
- Vùng 3 (ven biển bãi bồi ngăn mặn): Bố trí hệ thống rặng phi lao chắn bão cát, mương ngọt xả mặn, bể nước mưa lớn và xây tường dày mái thấp chống gió lốc.
5. Nguyên tắc quy hoạch kết hợp "từ trên xuống" và "từ dưới lên" được luận án luận giải ra sao?
Quy hoạch "từ trên xuống" là sự can thiệp của Nhà nước trong việc phân vùng lãnh thổ, định hướng phát triển hạ tầng kỹ thuật (giao thông, thủy lợi, cấp điện) và mạng lưới công trình công cộng cấp xã/huyện. Quy hoạch "từ dưới lên" là việc tổ chức quy mô lô đất và dây chuyền công năng khuôn viên xuất phát từ nhu cầu thực tế của từng hộ gia đình theo mức phân tầng kinh tế (khá giả, trung bình, nghèo) và loại hình nghề nghiệp cụ thể.
Kết luận
Luận án của tác giả Nguyễn Sĩ Quế là công trình nghiên cứu hệ thống về quy hoạch và kiến trúc nhà ở nông thôn vùng Đồng bằng Bắc Bộ trong giai đoạn chuyển đổi sang cơ chế kinh tế hộ gia đình. Bằng việc kết hợp giữa phân tích tiến trình lịch sử, khảo sát cấu trúc dân gian truyền thống và khảo sát thực địa kinh tế - xã hội, tác giả đã đề xuất thành công mô hình quy hoạch 9 phân vùng sinh thái cùng hệ thống mẫu nhà ở thích ứng với vi khí hậu và sự phân tầng xã hội. Công trình đóng góp cơ sở lý luận và thực tiễn quan trọng cho công tác quy hoạch, xây dựng và cải tạo nông thôn mới tại các tỉnh Đồng bằng Bắc Bộ.