CHƯƠNG 1 LÝ LUẬN CHUNG VỀ CHUYỂN GIAO QUYỀN SỞ HỮU NHÀ Ở TẠI VIỆT NAM 1. Một số khái niệm cơ bản về nhà ở 1. Khái niệm về nhà ở Xã hội loài người trải qua các giai đoạn phát triển từ thấp đến cao, từ xã hội nguyên thủy qua nô lệ, đến phong kiến và hiện nay nhiều quốc gia đang sống ở xã hội tư bản phát triển cao bắt đầu quá độ sang thời đại công nghệ thông tin, xã hội tri thức. Nhà ở tương ứng với tiến trình này cũng đã trải qua các hình thái phát triển từ đơn giản đến phức tạp, luôn luôn được hoàn thiện đổi mới theo những thành tựu của quá trình sản xuất, đời sống văn hóa tinh thần và tiến bộ khoa học kỹ thuật của thời đại cụ thể.
Trước đây vào thời kỳ nguyên thủy, nhà ở chỉ được hiểu đơn giản là nơi che mưa, che nắng, tránh thú dữ. Cuộc sống ngày càng phát triển nên vị trí của nhà ở đối với đời sống con người ngày càng cao lên. Nhà ở đã trở thành nơi diễn ra mọi sinh hoạt, nơi tái tạo sức lao động và còn là một hàng hoá đặc biệt có những đặc điểm riêng1. Theo Từ điển tiếng Việt2 "nhà" được định nghĩa là: công trình xây dựng có mái, có tường vách để ở hay để dùng vào một công việc nào đó.
Theo quy định pháp luật thì tại Khoản 1 Điều 3 Luật Nhà ở năm 2014 quy định rằng: “Nhà ở là công trình xây dựng với mục đích để ở và phục vụ các nhu cầu sinh hoạt của hộ gia đình, cá nhân”. Từ khái niệm trên có thể rút ra một số kết luận sau: Một là, mục đích chính của “nhà ở” là chỉ nhằm “để ở” và phục vụ nhu cầu sinh hoạt hàng ngày của hộ gia đình, cá nhân. Hai là, tuy là công trình xây dựng với kiến trúc là nhà ở, nhưng chỉ khi nào chủ thể sử dụng là hộ gia đình, cá nhân sử dụng vào mục đích chính là ở và phục vụ các nhu cầu sinh hoạt hàng ngày của chính chủ sử dụng đó thì công trình xây dựng này mới thoả điều kiện là nhà ở3. 1 “Nhà ở - Nhận thức và kiến nghị”, http://www.co/luan-van/nha-o-nhan-thuc-va-kien-nghi-10418/, [Truy cập ngày 18/8/2019].
2 “Nhà”, http://tratu.vn/dict/vn_vn/Nh%C3%A0, [Truy cập ngày 18/8/2019]. 3 Nguyễn Thị Thanh Xuân, Trần Vang Phủ, Lâm Thị Bích Trâm, “Tập bài giảng Pháp luật về nhà ở”, Khoa Luật Trường Đại học Cần Thơ, 2017, tr. GVHD: Trần Vang Phủ 3 SVTH: Trần Thị Phương Trang Luận văn: Pháp luật về thời điểm chuyển giao quyền sở hữu nhà ở 1. Phân loại nhà ở Căn cứ kết cấu công trình và hình thức sở hữu thì nhà ở gồm có 2 loại: Nhà ở riêng lẻ là nhà ở được xây dựng trên thửa đất ở riêng biệt thuộc quyền sử dụng hợp pháp của tổ chức, hộ gia đình, cá nhân, bao gồm nhà biệt thự, nhà ở liền kề và nhà ở độc lập4.
Nhà chung cư là nhà có từ 2 tầng trở lên, có nhiều căn hộ, có lối đi, cầu thang chung, có phần sở hữu riêng, phần sở hữu chung và hệ thống công trình hạ tầng sử dụng chung cho các hộ gia đình, cá nhân, tổ chức, bao gồm nhà chung cư được xây dựng với mục đích để ở và nhà chung cư được xây dựng có mục đích sử dụng hỗn hợp để ở và kinh doanh5. Căn cứ tính chất giao dịch về nhà ở thì gồm có 4 loại: Nhà ở thương mại là nhà ở được đầu tư xây dựng để bán, cho thuê, cho thuê mua theo cơ chế thị trường6. Nhà ở công vụ là nhà ở được dùng để cho các đối tượng thuộc diện được ở nhà công vụ theo quy định của Luật Nhà ở năm 2014 thuê trong thời gian đảm nhận chức vụ, công tác7. Nhà ở để phục vụ tái định cư là nhà ở để bố trí cho các hộ gia đình, cá nhân thuộc diện được tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất ở, bị giải tỏa nhà ở theo quy định của pháp luật8.
Nhà ở xã hội là nhà ở có sự hỗ trợ của Nhà nước cho các đối tượng được hưởng chính sách hỗ trợ về nhà ở theo quy định của Luật nhà ở năm 20149. Căn cứ mức độ hoàn thiện của công trình thì có các loại sau: Nhà ở có sẵn là nhà ở đã hoàn thành việc đầu tư xây dựng và đưa vào sử dụng. Theo Điểm a Khoản 5 Điều 80 Nghị định 99/2015/NĐ-CP ngày 20/10/2015 của Chính phủ về quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Nhà ở năm 2014 quy định rằng nhà ở có sẵn là nhà ở đã có biên bản nghiệm thu hoàn thành việc xây dựng đưa vào sử dụng theo quy định của pháp luật về xây dựng. Trường hợp nhà ở do chủ đầu tư tự thực hiện xây dựng theo quy định của pháp luật về xây dựng (nhà ở không bắt buộc phải do đơn vị có năng lực thực hiện xây dựng) thì phải đáp ứng điều kiện đã có hệ thống điện, nước 4 Khoản 2 Điều 3 Luật Nhà ở năm 2014.
5 Khoản 3 Điều 3 Luật Nhà ở năm 2014. 6 Khoản 4 Điều 3 Luật Nhà ở năm 2014. 7 Khoản 5 Điều 3 Luật Nhà ở năm 2014. 8 Khoản 6 Điều 3 Luật Nhà ở năm 2014.
9 Khoản 7 Điều 3 Luật Nhà ở năm 2014. GVHD: Trần Vang Phủ 4 SVTH: Trần Thị Phương Trang Luận văn: Pháp luật về thời điểm chuyển giao quyền sở hữu nhà ở phục vụ cho sinh hoạt, có hệ thống phòng cháy, chữa cháy (nếu nhà ở thuộc diện bắt buộc phải có hệ thống phòng cháy, chữa cháy). Nhà ở hình thành trong tương lai là nhà ở đang trong quá trình đầu tư xây dựng và chưa được nghiệm thu đưa vào sử dụng10. Khác với Luật Nhà ở năm 2014, Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định về tài sản hình thành trong tương lai bao gồm hai loại: tài sản chưa hình thành và tài sản đã hình thành nhưng chủ thể xác lập quyền sở hữu tài sản sau thời điểm xác lập giao dịch11.
Do nhà ở là tài sản có giá trị lớn và trong điều kiện kiểm soát những giao dịch về nhà ở chưa thật sự hiệu quả thì việc Luật Nhà ở năm 2014 chỉ thừa nhận nhà ở hình thành trong tương lai là nhà ở đang trong quá trình đầu tư xây dựng và chưa được nghiệm thu đưa vào sử dụng là rất phù hợp. Quy định này sẽ góp phần hạn chế rủi ro đối với người thứ ba trong các giao dịch có đối tượng là nhà ở hình thành trong tương lai. Một số khái niệm về chủ sở hữu nhà ở và khái niệm liên quan đến các giao dịch về nhà ở Chủ sở hữu nhà ở là tổ chức, hộ gia đình, cá nhân có nhà ở hợp pháp thông qua các hình thức đầu tư xây dựng, mua, thuê mua, nhận tặng cho, nhận thừa kế, nhận góp vốn, nhận đổi nhà ở và các hình thức khác theo quy định của Luật Nhà ở năm 2014 và pháp luật có liên quan12. Chủ sở hữu nhà chung cư là chủ sở hữu căn hộ chung cư, chủ sở hữu diện tích khác trong nhà chung cư13.
Tổ chức trong nước bao gồm cơ quan nhà nước, đơn vị vũ trang nhân dân, đơn vị sự nghiệp công lập, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị – xã hội, tổ chức chính trị xã hội – nghề nghiệp, tổ chức xã hội, tổ chức xã hội – nghề nghiệp, tổ chức kinh tế và tổ chức khác theo quy định của pháp luật về dân sự (sau đây gọi chung là tổ chức)14. Người Việt Nam định cư ở nước ngoài là công dân Việt Nam và người gốc Việt Nam cư trú, sinh sống lâu dài ở nước ngoài15. 10 Điểm b Khoản 5 Điều 80 Nghị định 99/2015/NĐ-CP ngày 20/10/2015 của Chính phủ về quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Nhà ở năm 2014. 11 Khoản 2 Điều 108 Bộ luật Dân sự năm 2015.
12 Khoản 12 Điều 3 Luật Nhà ở năm 2014. 13 Khoản 13 Điều 3 Luật Nhà ở năm 2014. 14 Khoản 14 Điều 3 Luật Nhà ở năm 2014. 15 Khoản 3 Điều 3 Luật Quốc tịch năm 2008 (sửa đổi, bổ sung năm 2014).
GVHD: Trần Vang Phủ 5 SVTH: Trần Thị Phương Trang Luận văn: Pháp luật về thời điểm chuyển giao quyền sở hữu nhà ở Người gốc Việt Nam định cư ở nước ngoài là người Việt Nam đã từng có quốc tịch Việt Nam mà khi sinh ra quốc tịch của họ được xác định theo nguyên tắc huyết thống và con, cháu của họ đang cư trú, sinh sống lâu dài ở nước ngoài16. Người nước ngoài là người mang giấy tờ xác định quốc tịch nước ngoài và người không quốc tịch nhập cảnh, xuất cảnh, quá cảnh, cư trú tại Việt Nam17. Tổ chức nước ngoài là tổ chức được thành lập theo pháp luật nước ngoài và pháp luật quốc tế18. Hợp đồng mua bán tài sản là sự thỏa thuận giữa các bên, theo đó bên bán chuyển quyền sở hữu tài sản cho bên mua và bên mua trả tiền cho bên bán19.
Hợp đồng mua bán nhà ở, mua bán nhà để sử dụng vào mục đích khác được thực hiện theo quy định của Bộ luật Dân sự năm 2015, Luật Nhà ở năm 2014 và luật khác có liên quan. Hợp đồng thuê tài sản là sự thỏa thuận giữa các bên, theo đó bên cho thuê giao tài sản cho bên thuê để sử dụng trong một thời hạn, bên thuê phải trả tiền thuê20. Hợp đồng thuê nhà ở, hợp đồng thuê nhà để sử dụng vào mục đích khác được thực hiện theo quy định của Bộ luật Dân sự năm 2015, Luật Nhà ở năm 2014 và quy định khác của pháp luật có liên quan. Thuê mua nhà, công trình xây dựng là thỏa thuận giữa các bên, theo đó bên thuê mua thanh toán trước cho bên cho thuê mua một khoản tiền và được sử dụng nhà, công trình xây dựng đó; số tiền còn lại được tính thành tiền thuê; sau khi đã thanh toán đủ số tiền thuê mua thì bên thuê mua trở thành chủ sở hữu đối với nhà, công trình xây dựng đó21.
Thuê mua nhà ở là việc người thuê mua thanh toán trước cho bên cho thuê mua 20% giá trị của nhà ở thuê mua, trừ trường hợp người thuê mua có điều kiện thanh toán trước thì được thanh toán không quá 50% giá trị nhà ở thuê mua; số tiền còn lại được tính thành tiền thuê nhà để trả hàng tháng cho bên cho thuê mua trong một thời hạn nhất định; sau khi hết hạn thuê mua nhà ở và khi đã trả hết số tiền còn lại thì người thuê mua có quyền sở hữu đối với nhà ở đó22.