Luận văn thạc sĩ: Những quy định chủ yếu của pháp luật về thẻ tín dụng và xu hướng hoàn thiện

Luận văn thạc sĩ luật học phân tích vnu ls những quy định chủ yếu của pháp luật về thẻ tín dụng và xu hướng hoàn thiện, đánh giá thực trạng, chỉ ra hạn chế, đề xuất giải pháp khả

Chuyên ngành

Luật Kinh Tế

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận văn thạc sĩ luật học

2007

93
5
0

Phí lưu trữ

35 Point

Mục lục chi tiết

MỞ ĐẦU

1. CHƯƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ PHÁP LÝ CƠ BẢN VỀ THẺ TÍN DỤNG

1.1. KHÁI QUÁT CHUNG VỀ THẺ TÍN DỤNG

1.1.1. Thẻ tín dụng và lịch sử phát triển

1.1.2. Sự ra đời của Thẻ tín dụng trên thế giới

1.1.3. Sự ra đời của Thẻ tín dụng tại Việt Nam

1.1.4. Khái niệm và đặc điểm của thẻ tín dụng tại Việt Nam

1.1.4.1. Khái niệm thẻ tín dụng
1.1.4.2. Đặc điểm của thẻ tín dụng

1.2. QUAN HỆ PHÁP LUẬT VỀ THẺ TÍN DỤNG

1.2.1. Các chủ thể liên quan đến việc sử dụng Thẻ tín dụng ở Việt Nam

1.2.2. Các quan hệ xã hội liên quan đến Thẻ tín dụng ở Việt Nam

1.2.2.1. Nhóm các quan hệ liên quan trực tiếp đến giao dịch thẻ tín dụng
1.2.2.2. Nhóm các quan hệ liên quan gián tiếp đến hoạt động kinh doanh thẻ

1.2.3. Sự cần thiết phải có pháp luật điều chỉnh các quan hệ liên quan đến thẻ tín dụng

2. CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VÀ THỰC TIỄN ÁP DỤNG PHÁP LUẬT VỀ THẺ TÍN DỤNG Ở VIỆT NAM HIỆN NAY

2.1. PHÁP LUẬT ĐIỀU CHỈNH CÁC QUAN HỆ XÃ HỘI TRONG PHÁT HÀNH, THANH TOÁN VÀ SỬ DỤNG THẺ TÍN DỤNG

2.1.1. Quan hệ giữa Chủ thẻ tín dụng và TCPHT

2.1.2. Điều kiện với chủ thẻ tín dụng

2.1.3. Điều kiện với TCPHT

2.1.4. Hợp đồng sử dụng thẻ tín dụng

2.1.5. Quan hệ giữa Chủ thẻ tín dụng và ĐVCNT

2.1.6. Quan hệ giữa ĐVCNT và TCTTT

2.1.7. Điều kiện đối với ĐVCNT

2.1.8. Điều kiện đối với TCTTT

2.1.9. Hợp đồng thanh toán thẻ giữa ĐVCNT và TCTTT

2.1.10. Quan hệ giữa Tổ chức thanh toán trung gian với các TCPHT, TCTTT

2.1.11. Quan hệ giữa Tổ chức thẻ quốc tế với các TCPHT, TCTTT Việt Nam

2.2. PHÁP LUẬT ĐIỀU CHỈNH QUAN HỆ QUẢN LÝ NHÀ NƢỚC TRONG HOẠT ĐỘNG KINH DOANH THẺ TÍN DỤNG

2.2.1. Các quy định về cho vay và bảo đảm an toàn trong hoạt động cho vay

2.2.2. Các quy định về quản lý hoạt động thanh toán

2.2.3. Các quy định về quản lý ngoại hối

2.2.4. Các quy định về cạnh tranh

2.2.5. Các quy định về phòng ngừa gian lận và tội phạm thẻ

3. CHƯƠNG 3: PHƢƠNG HƢỚNG HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VỀ THẺ TÍN DỤNG Ở VIỆT NAM

3.1. SỰ CẦN THIẾT PHẢI HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VỀ THẺ TÍN DỤNG

3.2. CÁC NGUYÊN TẮC CƠ BẢN CHI PHỐI VIỆC HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VỀ THẺ TÍN DỤNG

3.3. MỘT SỐ GIẢI PHÁP NHẰM HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VỀ THẺ TÍN DỤNG

3.3.1. Thống nhất hóa các quy định về phát hành, sử dụng, thanh toán thẻ tín dụng trong một văn bản

3.3.2. Về vấn đề xây dựng và chia sẻ thông tin tín dụng

3.3.3. Về việc phát huy năng lực hoạt động của các hiệp hội ngành nghề

3.3.4. Vấn đề phân định trách nhiệm gánh chịu rủi ro

3.3.5. Về vấn đề tội phạm thẻ

3.3.6. Xây dựng các quy tắc và tiêu chuẩn an toàn cho các tổ chức kinh doanh dịch vụ thẻ tín dụng

3.3.7. Tăng cƣờng tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật về thẻ tín dụng

KẾT LUẬN

TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC I. Khái quát tình hình kinh doanh Thẻ tín dụng quốc tế

PHỤ LỤC II. Tình hình sử dụng thẻ tín dụng quốc tế tại Việt Nam

PHỤ LỤC III. Quy trình phát hành và sử dụng Thẻ tín dụng tại Việt Nam

PHỤ LỤC IV. Các loại Thẻ tín dụng tại Việt Nam

Tóm tắt

I. Tổng quan về quy định pháp luật thẻ tín dụng tại Việt Nam

Thẻ tín dụng đã trở thành một phần quan trọng trong hệ thống tài chính tại Việt Nam. Quy định pháp luật về thẻ tín dụng không chỉ điều chỉnh các giao dịch tài chính mà còn bảo vệ quyền lợi của người tiêu dùng. Sự phát triển của thẻ tín dụng tại Việt Nam gắn liền với sự phát triển của nền kinh tế và nhu cầu thanh toán không dùng tiền mặt. Các quy định hiện hành đã tạo ra một khung pháp lý cho việc phát hành, sử dụng và thanh toán thẻ tín dụng.

1.1. Khái niệm và đặc điểm của thẻ tín dụng tại Việt Nam

Thẻ tín dụng là một công cụ tài chính cho phép người dùng thực hiện giao dịch mà không cần thanh toán ngay lập tức. Tại Việt Nam, thẻ tín dụng có những đặc điểm riêng biệt như hạn mức tín dụng, lãi suất và các điều kiện sử dụng. Các ngân hàng thương mại là tổ chức phát hành thẻ tín dụng, và người tiêu dùng cần đáp ứng các tiêu chí nhất định để được cấp thẻ.

1.2. Lịch sử phát triển thẻ tín dụng tại Việt Nam

Thẻ tín dụng bắt đầu xuất hiện tại Việt Nam vào những năm 1990, khi Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam ký hợp đồng với ngân hàng nước ngoài để chấp nhận thanh toán thẻ. Kể từ đó, thị trường thẻ tín dụng đã phát triển mạnh mẽ, với sự tham gia của nhiều ngân hàng và tổ chức tài chính khác nhau.

II. Vấn đề và thách thức trong quy định pháp luật về thẻ tín dụng

Mặc dù quy định pháp luật về thẻ tín dụng đã được thiết lập, nhưng vẫn còn nhiều vấn đề và thách thức cần giải quyết. Các rủi ro liên quan đến việc sử dụng thẻ tín dụng, như gian lận và bảo mật thông tin, đang gia tăng. Hơn nữa, sự thiếu hụt thông tin và hiểu biết về thẻ tín dụng trong cộng đồng cũng là một vấn đề lớn.

2.1. Rủi ro khi sử dụng thẻ tín dụng

Người tiêu dùng thường gặp phải các rủi ro như gian lận thẻ, mất cắp thông tin cá nhân và các khoản phí không rõ ràng. Các ngân hàng cần có biện pháp bảo vệ người tiêu dùng và đảm bảo an toàn thông tin trong giao dịch thẻ tín dụng.

2.2. Thiếu hụt thông tin và hiểu biết về thẻ tín dụng

Nhiều người tiêu dùng vẫn chưa hiểu rõ về quyền lợi và nghĩa vụ khi sử dụng thẻ tín dụng. Việc thiếu thông tin có thể dẫn đến những quyết định tài chính không đúng đắn, gây thiệt hại cho người tiêu dùng.

III. Phương pháp hoàn thiện quy định pháp luật về thẻ tín dụng

Để hoàn thiện quy định pháp luật về thẻ tín dụng, cần có những phương pháp cụ thể nhằm nâng cao hiệu quả quản lý và bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng. Các giải pháp này bao gồm việc thống nhất hóa các quy định, tăng cường giáo dục pháp luật và xây dựng các tiêu chuẩn an toàn cho thẻ tín dụng.

3.1. Thống nhất hóa quy định về phát hành và sử dụng thẻ tín dụng

Cần có một văn bản pháp lý thống nhất để điều chỉnh tất cả các khía cạnh liên quan đến thẻ tín dụng, từ phát hành đến sử dụng và thanh toán. Điều này sẽ giúp giảm thiểu sự chồng chéo và mâu thuẫn trong các quy định hiện hành.

3.2. Tăng cường giáo dục pháp luật về thẻ tín dụng

Việc nâng cao nhận thức của người tiêu dùng về thẻ tín dụng là rất quan trọng. Các chương trình giáo dục và tuyên truyền cần được triển khai để giúp người tiêu dùng hiểu rõ hơn về quyền lợi và nghĩa vụ của mình khi sử dụng thẻ tín dụng.

IV. Ứng dụng thực tiễn và kết quả nghiên cứu về thẻ tín dụng

Nghiên cứu về thẻ tín dụng đã chỉ ra rằng việc áp dụng các quy định pháp luật hiện hành có ảnh hưởng tích cực đến sự phát triển của thị trường thẻ tín dụng tại Việt Nam. Các ngân hàng đã có những bước tiến trong việc cải thiện dịch vụ và bảo vệ quyền lợi của khách hàng.

4.1. Kết quả nghiên cứu về thị trường thẻ tín dụng

Nghiên cứu cho thấy rằng thị trường thẻ tín dụng tại Việt Nam đang trên đà phát triển mạnh mẽ, với sự gia tăng số lượng thẻ phát hành và giao dịch. Tuy nhiên, vẫn cần có những cải tiến trong quy định pháp luật để đảm bảo sự phát triển bền vững.

4.2. Ứng dụng công nghệ trong quản lý thẻ tín dụng

Công nghệ thông tin đã đóng vai trò quan trọng trong việc quản lý và bảo mật thông tin thẻ tín dụng. Các ngân hàng cần tiếp tục đầu tư vào công nghệ để nâng cao hiệu quả quản lý và bảo vệ người tiêu dùng.

V. Kết luận và tương lai của quy định pháp luật về thẻ tín dụng

Quy định pháp luật về thẻ tín dụng tại Việt Nam cần được hoàn thiện để đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của thị trường. Tương lai của thẻ tín dụng phụ thuộc vào khả năng thích ứng của các quy định pháp luật với sự phát triển của công nghệ và nhu cầu của người tiêu dùng.

5.1. Tương lai của thẻ tín dụng tại Việt Nam

Dự báo rằng thẻ tín dụng sẽ tiếp tục phát triển mạnh mẽ tại Việt Nam, với sự gia tăng của các dịch vụ thanh toán điện tử. Các ngân hàng cần chuẩn bị sẵn sàng để đáp ứng nhu cầu này.

5.2. Đề xuất hoàn thiện quy định pháp luật về thẻ tín dụng

Cần có những đề xuất cụ thể để hoàn thiện quy định pháp luật về thẻ tín dụng, nhằm bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng và thúc đẩy sự phát triển của thị trường thẻ tín dụng tại Việt Nam.

19/07/2025
Luận văn thạc sĩ vnu ls những quy định chủ yếu của pháp luật về thẻ tín dụng và xu hướng hoàn thiện

Trích đoạn nội dung tài liệu

phần Mở đầu và Kết luận, phần nội dung chính của Luận văn gồm 3 chƣơng nhƣ sau: Chƣơng 1: Những vấn đề pháp lý cơ bản về thẻ tín dụng Chƣơng 2: Thực trạng pháp luật và thực tiễn áp dụng pháp luật về thẻ tín dụng ở Việt Nam Chƣơng 3: Phƣơng hƣớng hoàn thiện pháp luật về thẻ tín dụng ở Việt Nam 10 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Chƣơng 1 NHỮNG VẤN ĐỀ PHÁP LÝ CƠ BẢN VỀ THẺ TÍN DỤNG 1. KHÁI QUÁT CHUNG VỀ THẺ TÍN DỤNG 1. Thẻ tín dụng và lịch sử phát triển 1. Sự ra đời của Thẻ tín dụng trên thế giới Sự ra đời của tiền tệ đã đánh dấu một bƣớc phát triển đột phá của sản xuất và lƣu thông hàng hóa.

Qua nhiều giai đoạn phát triển, ngày nay tiền tệ đã đạt đến hình thái biểu hiện cao với chức năng thanh toán không dùng tiền mặt, đó là Tiền điện tử. Thẻ tín dụng chính là một dạng của loại tiền điện tử không dùng tiền mặt đó. Vào những năm giữa thế kỷ 20, kinh tế hàng hóa phát triển mạnh mẽ kéo theo nhu cầu tiêu dùng cá nhân không ngừng tăng lên. Thêm vào đó, những thành quả của sự phát triển vƣợt bậc trong khoa học kỹ thuật và công nghệ tin học đƣợc ứng dụng vào ngành tài chính – ngân hàng đã làm thay đổi hình thức thanh toán tiêu dùng truyền thống của dân chúng, đồng thời đƣa dịch vụ thanh toán điện tử trở thành mũi nhọn kinh doanh của các ngân hàng.

Nằm trong dịch vụ thanh toán điện tử này, kết hợp với việc kinh doanh tín dụng truyền thống, thẻ tín dụng ra đời không những làm thay đổi thói quen kinh doanh của ngân hàng mà còn làm thay đổi thói quen tiêu dùng của ngƣời dân tại nhiều quốc gia. Năm 1914, một số nhà hàng, khách sạn, Hiệp hội. tại Hoa Kỳ đã sản xuất và cấp cho các Khách hàng quen của mình những tấm thẻ ƣu đãi để sử dụng cho những dịch vụ đặc biệt. Tấm thẻ ƣu đãi lúc này chỉ là một sự chứng nhận cho nhân thân của Chủ thẻ chứ không thay thế cho việc thanh toán các dịch vụ mà Chủ thẻ đó sử dụng.

Năm 1946, một ngƣời tên là John Biggins sáng lập ra hệ thống mua bán chịu Charge-it để ngƣời tiêu dùng thực hiện những giao dịch mua bán lẻ tại địa phƣơng. Các Đơn vị cung ứng hàng hóa, dịch vụ bán chịu cho khách hàng và nộp biên lai bán hàng cho ngân hàng của Biggins. Ngân hàng này sẽ trả tiền cho họ và thu lại tiền từ các khách hàng sử dụng dịch vụ Charge-it. Năm 1949, sau sự kiện bị từ chối thanh toán bằng séc khi không mang tiền mặt tại một quán ăn ở New York, ông Frank McNamara đã có sáng kiến phát hành ra chiếc thẻ Diner Club phát hành cho các hội viên để các hội viên sử dụng mua 11 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com hàng hóa, dịch vụ mà không cần thanh toán ngay bằng tiền mặt.

Diner Club sẽ trả cho các chủ hiệu tiền hàng hóa dịch vụ của tất cả các hội viên vào cuối tháng, sau khi trừ đi chi phí dịch vụ thẻ, đồng thời phát hành bảng kê cho các hội viên và yêu cầu hội viên thanh toán lại ngay cho Diner Club. Năm 1951, Franklin National Bank- Long Insland- New York (nay là European American Bank) là ngân hàng đầu tiên phát hành thẻ tín dụng. Để có đƣợc thẻ, các khách hàng phải có uy tín và năng lực tài chính. Thẻ này dùng cho các thƣơng vụ bán lẻ hàng hóa dịch vụ.

Khi nhận đƣợc thẻ để thanh toán, các Đơn vị cung ứng hàng hóa, dịch vụ lƣu lại các thông tin về khách hàng trên thẻ vào hóa đơn bán hàng. Các Đơn vị này sẽ đƣợc Franklin National Bank thanh toán lại trên cơ sở có chiết khấu một tỷ lệ nhất định nhƣ là một khoản bù đắp chi phí. Năm 1959, để tăng sức cạnh tranh, nhiều tổ chức phát hành thẻ đƣa ra loại hình dịch vụ mới: tín dụng tuần hoàn. Với dịch vụ này, các Chủ thẻ có thể duy trì số dƣ có trên tài khoản vay bằng một hạn mức tín dụng nếu họ hoàn thành trách nhiệm thanh toán hàng tháng.

Khi đó, số tiền thanh toán hàng tháng của chủ thể sẽ đƣợc cộng thêm một khoản chi phí tính từ khoản vay của Chủ thẻ. Đến những năm 60 của thế kỷ 20, thẻ tín dụng đã dần dần xuất hiện trong cuộc sống của các nƣớc Châu Âu và trở thành một trong những phƣơng tiện thanh toán thông dụng trên thế giới. Ở giai đoạn đầu phát triển, Chủ thẻ tín dụng thƣờng là những ngƣời có năng lực tài chính, có vị thế trong xã hội. Nhƣng các ngân hàng sớm nhận ra đông đảo dân chúng trong xã hội mới là đối tƣợng sử dụng thẻ tiềm năng và một cuộc đua tranh giữa các ngân hàng tạo ra sự bùng nổ việc sử dụng thẻ tín dụng.

Năm 1960, ngân hàng Bank of America cho ra đời sản phẩm thẻ đầu tiên của mình là Bank Americard. Ban đầu, chỉ một nhóm nhỏ các Chủ thẻ và đại lý tham gia, sau đó Bank of America phát triển mạng lƣới bằng cách mở rộng phạm vi hoạt động thông qua việc cấp phép cho các tổ chức tài chính khác trong việc phát hành thẻ và ký kết hợp đồng với các đại lý. Việc phát triển mạng lƣới đại lý và Chủ thẻ ngày càng mở rộng trên toàn nƣớc Mỹ. Thấy đƣợc thành công trong việc kinh doanh thẻ của Bank of America, nhiều tổ chức phát hành thẻ khác bắt đầu liên kết để cạnh tranh với các tổ chức của Bank of America.

Năm 1966, 14 ngân hàng Mỹ liên kết thành tổ chức Interbank 12 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com (Interbank Card Association - ICA), một tổ chức mới có khả năng trao đổi thông tin về các giao dịch thẻ tín dụng. Mặc dù có những rắc rối phát sinh, các tổ chức phát hành thẻ vẫn liên tiếp ra đời. Năm 1967, 4 ngân hàng ở California đổi tên từ California Bank Card Association thành Western State Bank Card Association (WSBA). WSBA mở rộng mạng lƣới thành viên với các tổ chức tài chính khác ở phía Tây nƣớc Mỹ.

Sản phẩm thẻ của WSBA là MasterCharge. WSBA cũng cấp phép cho tổ chức Interbank sử dụng tên và thƣơng hiệu của MasterCharge. Vào cuối thập niên 60, nhiều tổ chức tài chính đã trở thành thành viên của MasterCharge và đủ sức cạnh tranh với Bank Americard. Năm 1968, Interbank mở rộng thành viên ra khỏi phạm vi nƣớc Mỹ, liên kết với các tổ chức tài chính Châu Âu và hình thành thẻ EuroCard và năm này cũng là năm mà thành viên đầu tiên của Nhật tham gia vào tổ chức Interbank.

Năm 1977, tổ chức thẻ Bank Americard đổi tên thành Visa USA và sau đó là Tổ chức thẻ quốc tế Visa – Visa International. Năm 1979, tổ chức Master Charge đổi tên thành MasterCard. Đến thời điểm hiện nay, đã có rất nhiều các tổ chức thẻ quốc tế đƣợc thành lập bởi các định chế tài chính khác nhau, làm cho thị trƣờng thẻ ngày càng đa dạng nhƣ: American Express (Amex), Diners Club, JCB, EuroCard. Nhƣng phát triển mạnh nhất và chiếm lĩnh thị trƣờng nhiều nhất vẫn là VisaCard và Mastercard với hơn 25 triệu Đơn vị chấp nhận thẻ và hơn 1 triệu điểm rút tiền mặt thuộc 230 quốc gia và vùng lãnh thổ trong đó có Việt Nam.

Sự ra đời của Thẻ tín dụng tại Việt Nam Từ trƣớc những năm 90 của thế kỷ 20, mặc dù đã đƣợc phổ biến tại nhiều quốc gia, thẻ tín dụng vẫn chƣa có chỗ đứng tại Việt Nam. Tuy nhiên, chỉ sau đó ít lâu, nhờ vào định hƣớng phát triển kinh tế thị trƣờng và chính sách mở cửa, thẻ tín dụng đã đƣợc các nhà đầu tƣ và khách du lịch nƣớc ngoài mang theo khi nhập cảnh vào Việt Nam. Trong khi việc thanh toán không dùng tiền mặt thông qua thẻ tín dụng đã trở thành thói quen của ngƣời nƣớc ngoài, thì tại Việt Nam, họ vẫn phải dùng ngoại tệ mặt hoặc đến ngân hàng tại Việt Nam đổi lấy tiền đồng Việt Nam để chi trả cho hàng hóa, dịch vụ mà họ sử dụng. Với sự chuyển biến tích cực của nền 13 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com kinh tế, cộng với sự hội nhập sâu rộng của kinh tế xã hội Việt Nam vào khu vực và thế giới, lƣợng khách nƣớc ngoài đến Việt Nam ngày càng gia tăng dẫn đến áp lực phải chấp nhận phƣơng thức thanh toán phổ biến này của ngƣời nƣớc ngoài.

Đánh dấu điểm khởi đầu cho sự gia nhập chính thức của thẻ tín dụng vào thị trƣờng Việt Nam là sự kiện Ngân hàng Ngoại thƣơng Việt Nam (VCB) ký kết hợp đồng đại lý thanh toán thẻ với ngân hàng BFCE Singapore vào ngày 27-6-1990. Nội dung của Hợp đồng này là thỏa thuận để các điểm giao dịch và đại lý của VCB có thể chấp nhận thanh toán đƣợc thẻ Visa. Ngay sau đó, tháng 7-1990 Ngân hàng Sài Gòn Công Thƣơng liên doanh với một công ty con của Tyndall Group của Anh thành lập Trung tâm thanh toán Visa tại thành phố Hồ Chí Minh. Ngày 24-7-1991, VCB ký hợp đồng đại lý thanh toán thẻ tín dụng quốc tế Mastercard với công ty thẻ MBF Malaysia.

Ngày 18-9-1991, VCB tiếp tục ký hợp đồng đại lý thanh toán thẻ JCB card với công ty JCB International Co.Ltd của Nhật Bản. Đến năm 1994, một số ngân hàng khác cũng tham gia thị trƣờng thanh toán thẻ nhƣ Ngân hàng Công Thƣơng Việt Nam với thẻ Visa, Eximbank với thẻ Visa và Mastercard … Cho đến nay ở Việt Nam đã có 19 ngân hàng thƣơng mại tham gia thanh toán thẻ tín dụng quốc tế với các thƣơng hiệu nhƣ Visacard, Mastercard, JCB, Amex, Diners Club, Eurocard… Đó mới chỉ là sự tham gia của các ngân hàng Việt Nam vào hoạt động thanh toán bằng thẻ tín dụng. Việc các ngân hàng Việt Nam phát hành thẻ tín dụng thì triển khai chậm hơn. Hiện tại có 8 ngân hàng thƣơng mạiViệt Nam tham gia phát hành thẻ tín dụng quốc tế cho các thƣơng hiệu nổi tiếng nhƣ: Visa, Mastercard, JCB, Amex, Diners Club… Về lĩnh vực liên kết thẻ, hiện tại mới có 3 liên minh thẻ là liên minh giữa Ngân hàng Ngoại thƣơng Việt nam với 17 ngân hàng thƣơng mại cổ phần, công ty cổ phần chuyển Mạch tài chính Quốc gia – BankNet (có 14 ngân hàng thƣơng mại tham gia với VDC), hệ thống VNBC (có 4 ngân hàng thƣơng mại tham gia).

Việc sử dụng thẻ ngân hàng nói chung và thẻ tín dụng nói riêng ở Việt Nam bắt đầu đƣợc triển khai vào những năm 1990 với việc Ngân hàng Nhà nƣớc ban hành Quyết định số 74/QĐ-NH về “Thể lệ tạm thời về phát hành và sử dụng thẻ 14 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ