phần Mở đầu và Kết luận, phần nội dung chính của Luận văn gồm 3 chƣơng nhƣ sau: Chƣơng 1: Những vấn đề pháp lý cơ bản về thẻ tín dụng Chƣơng 2: Thực trạng pháp luật và thực tiễn áp dụng pháp luật về thẻ tín dụng ở Việt Nam Chƣơng 3: Phƣơng hƣớng hoàn thiện pháp luật về thẻ tín dụng ở Việt Nam 10 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Chƣơng 1 NHỮNG VẤN ĐỀ PHÁP LÝ CƠ BẢN VỀ THẺ TÍN DỤNG 1. KHÁI QUÁT CHUNG VỀ THẺ TÍN DỤNG 1. Thẻ tín dụng và lịch sử phát triển 1. Sự ra đời của Thẻ tín dụng trên thế giới Sự ra đời của tiền tệ đã đánh dấu một bƣớc phát triển đột phá của sản xuất và lƣu thông hàng hóa.
Qua nhiều giai đoạn phát triển, ngày nay tiền tệ đã đạt đến hình thái biểu hiện cao với chức năng thanh toán không dùng tiền mặt, đó là Tiền điện tử. Thẻ tín dụng chính là một dạng của loại tiền điện tử không dùng tiền mặt đó. Vào những năm giữa thế kỷ 20, kinh tế hàng hóa phát triển mạnh mẽ kéo theo nhu cầu tiêu dùng cá nhân không ngừng tăng lên. Thêm vào đó, những thành quả của sự phát triển vƣợt bậc trong khoa học kỹ thuật và công nghệ tin học đƣợc ứng dụng vào ngành tài chính – ngân hàng đã làm thay đổi hình thức thanh toán tiêu dùng truyền thống của dân chúng, đồng thời đƣa dịch vụ thanh toán điện tử trở thành mũi nhọn kinh doanh của các ngân hàng.
Nằm trong dịch vụ thanh toán điện tử này, kết hợp với việc kinh doanh tín dụng truyền thống, thẻ tín dụng ra đời không những làm thay đổi thói quen kinh doanh của ngân hàng mà còn làm thay đổi thói quen tiêu dùng của ngƣời dân tại nhiều quốc gia. Năm 1914, một số nhà hàng, khách sạn, Hiệp hội. tại Hoa Kỳ đã sản xuất và cấp cho các Khách hàng quen của mình những tấm thẻ ƣu đãi để sử dụng cho những dịch vụ đặc biệt. Tấm thẻ ƣu đãi lúc này chỉ là một sự chứng nhận cho nhân thân của Chủ thẻ chứ không thay thế cho việc thanh toán các dịch vụ mà Chủ thẻ đó sử dụng.
Năm 1946, một ngƣời tên là John Biggins sáng lập ra hệ thống mua bán chịu Charge-it để ngƣời tiêu dùng thực hiện những giao dịch mua bán lẻ tại địa phƣơng. Các Đơn vị cung ứng hàng hóa, dịch vụ bán chịu cho khách hàng và nộp biên lai bán hàng cho ngân hàng của Biggins. Ngân hàng này sẽ trả tiền cho họ và thu lại tiền từ các khách hàng sử dụng dịch vụ Charge-it. Năm 1949, sau sự kiện bị từ chối thanh toán bằng séc khi không mang tiền mặt tại một quán ăn ở New York, ông Frank McNamara đã có sáng kiến phát hành ra chiếc thẻ Diner Club phát hành cho các hội viên để các hội viên sử dụng mua 11 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com hàng hóa, dịch vụ mà không cần thanh toán ngay bằng tiền mặt.
Diner Club sẽ trả cho các chủ hiệu tiền hàng hóa dịch vụ của tất cả các hội viên vào cuối tháng, sau khi trừ đi chi phí dịch vụ thẻ, đồng thời phát hành bảng kê cho các hội viên và yêu cầu hội viên thanh toán lại ngay cho Diner Club. Năm 1951, Franklin National Bank- Long Insland- New York (nay là European American Bank) là ngân hàng đầu tiên phát hành thẻ tín dụng. Để có đƣợc thẻ, các khách hàng phải có uy tín và năng lực tài chính. Thẻ này dùng cho các thƣơng vụ bán lẻ hàng hóa dịch vụ.
Khi nhận đƣợc thẻ để thanh toán, các Đơn vị cung ứng hàng hóa, dịch vụ lƣu lại các thông tin về khách hàng trên thẻ vào hóa đơn bán hàng. Các Đơn vị này sẽ đƣợc Franklin National Bank thanh toán lại trên cơ sở có chiết khấu một tỷ lệ nhất định nhƣ là một khoản bù đắp chi phí. Năm 1959, để tăng sức cạnh tranh, nhiều tổ chức phát hành thẻ đƣa ra loại hình dịch vụ mới: tín dụng tuần hoàn. Với dịch vụ này, các Chủ thẻ có thể duy trì số dƣ có trên tài khoản vay bằng một hạn mức tín dụng nếu họ hoàn thành trách nhiệm thanh toán hàng tháng.
Khi đó, số tiền thanh toán hàng tháng của chủ thể sẽ đƣợc cộng thêm một khoản chi phí tính từ khoản vay của Chủ thẻ. Đến những năm 60 của thế kỷ 20, thẻ tín dụng đã dần dần xuất hiện trong cuộc sống của các nƣớc Châu Âu và trở thành một trong những phƣơng tiện thanh toán thông dụng trên thế giới. Ở giai đoạn đầu phát triển, Chủ thẻ tín dụng thƣờng là những ngƣời có năng lực tài chính, có vị thế trong xã hội. Nhƣng các ngân hàng sớm nhận ra đông đảo dân chúng trong xã hội mới là đối tƣợng sử dụng thẻ tiềm năng và một cuộc đua tranh giữa các ngân hàng tạo ra sự bùng nổ việc sử dụng thẻ tín dụng.
Năm 1960, ngân hàng Bank of America cho ra đời sản phẩm thẻ đầu tiên của mình là Bank Americard. Ban đầu, chỉ một nhóm nhỏ các Chủ thẻ và đại lý tham gia, sau đó Bank of America phát triển mạng lƣới bằng cách mở rộng phạm vi hoạt động thông qua việc cấp phép cho các tổ chức tài chính khác trong việc phát hành thẻ và ký kết hợp đồng với các đại lý. Việc phát triển mạng lƣới đại lý và Chủ thẻ ngày càng mở rộng trên toàn nƣớc Mỹ. Thấy đƣợc thành công trong việc kinh doanh thẻ của Bank of America, nhiều tổ chức phát hành thẻ khác bắt đầu liên kết để cạnh tranh với các tổ chức của Bank of America.
Năm 1966, 14 ngân hàng Mỹ liên kết thành tổ chức Interbank 12 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com (Interbank Card Association - ICA), một tổ chức mới có khả năng trao đổi thông tin về các giao dịch thẻ tín dụng. Mặc dù có những rắc rối phát sinh, các tổ chức phát hành thẻ vẫn liên tiếp ra đời. Năm 1967, 4 ngân hàng ở California đổi tên từ California Bank Card Association thành Western State Bank Card Association (WSBA). WSBA mở rộng mạng lƣới thành viên với các tổ chức tài chính khác ở phía Tây nƣớc Mỹ.
Sản phẩm thẻ của WSBA là MasterCharge. WSBA cũng cấp phép cho tổ chức Interbank sử dụng tên và thƣơng hiệu của MasterCharge. Vào cuối thập niên 60, nhiều tổ chức tài chính đã trở thành thành viên của MasterCharge và đủ sức cạnh tranh với Bank Americard. Năm 1968, Interbank mở rộng thành viên ra khỏi phạm vi nƣớc Mỹ, liên kết với các tổ chức tài chính Châu Âu và hình thành thẻ EuroCard và năm này cũng là năm mà thành viên đầu tiên của Nhật tham gia vào tổ chức Interbank.
Năm 1977, tổ chức thẻ Bank Americard đổi tên thành Visa USA và sau đó là Tổ chức thẻ quốc tế Visa – Visa International. Năm 1979, tổ chức Master Charge đổi tên thành MasterCard. Đến thời điểm hiện nay, đã có rất nhiều các tổ chức thẻ quốc tế đƣợc thành lập bởi các định chế tài chính khác nhau, làm cho thị trƣờng thẻ ngày càng đa dạng nhƣ: American Express (Amex), Diners Club, JCB, EuroCard. Nhƣng phát triển mạnh nhất và chiếm lĩnh thị trƣờng nhiều nhất vẫn là VisaCard và Mastercard với hơn 25 triệu Đơn vị chấp nhận thẻ và hơn 1 triệu điểm rút tiền mặt thuộc 230 quốc gia và vùng lãnh thổ trong đó có Việt Nam.
Sự ra đời của Thẻ tín dụng tại Việt Nam Từ trƣớc những năm 90 của thế kỷ 20, mặc dù đã đƣợc phổ biến tại nhiều quốc gia, thẻ tín dụng vẫn chƣa có chỗ đứng tại Việt Nam. Tuy nhiên, chỉ sau đó ít lâu, nhờ vào định hƣớng phát triển kinh tế thị trƣờng và chính sách mở cửa, thẻ tín dụng đã đƣợc các nhà đầu tƣ và khách du lịch nƣớc ngoài mang theo khi nhập cảnh vào Việt Nam. Trong khi việc thanh toán không dùng tiền mặt thông qua thẻ tín dụng đã trở thành thói quen của ngƣời nƣớc ngoài, thì tại Việt Nam, họ vẫn phải dùng ngoại tệ mặt hoặc đến ngân hàng tại Việt Nam đổi lấy tiền đồng Việt Nam để chi trả cho hàng hóa, dịch vụ mà họ sử dụng. Với sự chuyển biến tích cực của nền 13 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com kinh tế, cộng với sự hội nhập sâu rộng của kinh tế xã hội Việt Nam vào khu vực và thế giới, lƣợng khách nƣớc ngoài đến Việt Nam ngày càng gia tăng dẫn đến áp lực phải chấp nhận phƣơng thức thanh toán phổ biến này của ngƣời nƣớc ngoài.
Đánh dấu điểm khởi đầu cho sự gia nhập chính thức của thẻ tín dụng vào thị trƣờng Việt Nam là sự kiện Ngân hàng Ngoại thƣơng Việt Nam (VCB) ký kết hợp đồng đại lý thanh toán thẻ với ngân hàng BFCE Singapore vào ngày 27-6-1990. Nội dung của Hợp đồng này là thỏa thuận để các điểm giao dịch và đại lý của VCB có thể chấp nhận thanh toán đƣợc thẻ Visa. Ngay sau đó, tháng 7-1990 Ngân hàng Sài Gòn Công Thƣơng liên doanh với một công ty con của Tyndall Group của Anh thành lập Trung tâm thanh toán Visa tại thành phố Hồ Chí Minh. Ngày 24-7-1991, VCB ký hợp đồng đại lý thanh toán thẻ tín dụng quốc tế Mastercard với công ty thẻ MBF Malaysia.
Ngày 18-9-1991, VCB tiếp tục ký hợp đồng đại lý thanh toán thẻ JCB card với công ty JCB International Co.Ltd của Nhật Bản. Đến năm 1994, một số ngân hàng khác cũng tham gia thị trƣờng thanh toán thẻ nhƣ Ngân hàng Công Thƣơng Việt Nam với thẻ Visa, Eximbank với thẻ Visa và Mastercard … Cho đến nay ở Việt Nam đã có 19 ngân hàng thƣơng mại tham gia thanh toán thẻ tín dụng quốc tế với các thƣơng hiệu nhƣ Visacard, Mastercard, JCB, Amex, Diners Club, Eurocard… Đó mới chỉ là sự tham gia của các ngân hàng Việt Nam vào hoạt động thanh toán bằng thẻ tín dụng. Việc các ngân hàng Việt Nam phát hành thẻ tín dụng thì triển khai chậm hơn. Hiện tại có 8 ngân hàng thƣơng mạiViệt Nam tham gia phát hành thẻ tín dụng quốc tế cho các thƣơng hiệu nổi tiếng nhƣ: Visa, Mastercard, JCB, Amex, Diners Club… Về lĩnh vực liên kết thẻ, hiện tại mới có 3 liên minh thẻ là liên minh giữa Ngân hàng Ngoại thƣơng Việt nam với 17 ngân hàng thƣơng mại cổ phần, công ty cổ phần chuyển Mạch tài chính Quốc gia – BankNet (có 14 ngân hàng thƣơng mại tham gia với VDC), hệ thống VNBC (có 4 ngân hàng thƣơng mại tham gia).
Việc sử dụng thẻ ngân hàng nói chung và thẻ tín dụng nói riêng ở Việt Nam bắt đầu đƣợc triển khai vào những năm 1990 với việc Ngân hàng Nhà nƣớc ban hành Quyết định số 74/QĐ-NH về “Thể lệ tạm thời về phát hành và sử dụng thẻ 14 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.