Tổng quan nghiên cứu

Năm 2007, ngành du lịch Việt Nam ghi nhận sự bứt phá mạnh mẽ khi đón 4,2 triệu lượt khách quốc tế (tăng 17,2% so với năm 2006) và phục vụ 19,2 triệu lượt khách nội địa (tăng 9,7%), tạo ra nguồn thu nhập xã hội đạt 56.000 tỷ đồng, đóng góp tích cực vào tốc độ tăng trưởng kinh tế chung 8,5% của cả nước. Bước chuyển mình này đòi hỏi một khung khổ thể chế hoàn thiện để điều chỉnh các quan hệ kinh doanh thương mại du lịch đang ngày càng đa dạng.

Luận văn thạc sĩ luật học chuyên ngành Luật Kinh tế với đề tài "Quy chế pháp lý của thương nhân trong kinh doanh du lịch tại Việt Nam" do học viên Phùng Thị Thanh Hiền thực hiện dưới sự hướng dẫn khoa học của TS. Ngô Huy Cương tại Khoa Luật – Đại học Quốc gia Hà Nội. Mục tiêu nghiên cứu tập trung làm sáng tỏ những vấn đề lý luận nền tảng về địa vị pháp lý của thương nhân du lịch, đánh giá thực trạng hệ thống pháp luật thực định (trọng tâm là Luật Du lịch năm 2005, Luật Thương mại năm 2005, Luật Doanh nghiệp năm 2005), từ đó xây dựng các định hướng và giải pháp khả thi nhằm hoàn thiện quy chế thương nhân du lịch.

Phạm vi nghiên cứu bao quát các hoạt động kinh doanh lữ hành, lưu trú, vận chuyển khách và phát triển khu điểm du lịch tại Việt Nam trong giai đoạn hội nhập kinh tế quốc tế và gia nhập WTO từ năm 2005 đến năm 2008. Kết quả nghiên cứu có ý nghĩa lý luận và thực tiễn sâu sắc, cung cấp luận cứ khoa học góp phần thúc đẩy cải cách hành chính, hướng tới mục tiêu giảm 30% chi phí tuân thủ thủ tục và bảo vệ quyền lợi hợp pháp cho hơn 350.000 doanh nghiệp tham gia thị trường.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Luận văn xây dựng trên nền tảng lý thuyết chủ thể thương mại và lý thuyết hành vi thương mại trong luật học kinh tế hiện đại. Nghiên cứu tiếp cận hai trường phái lập pháp kinh điển: hệ thống luật Châu Âu lục địa (Civil Law với đại diện tiêu biểu là Bộ luật Thương mại Pháp năm 1807, Luật Thương mại Đức, Cộng hòa Séc) và hệ thống luật án lệ (Common Law với Bộ luật Thương mại thống nhất Hoa Kỳ - UCC).

Hệ thống khái niệm nòng cốt được chuẩn hóa trong công trình gồm có:

  • Thương nhân (Merchant/Trader): Chủ thể thực hiện hành vi thương mại độc lập, thường xuyên mang tính nghề nghiệp và có đăng ký kinh doanh hợp pháp.
  • Hành vi thương mại (Commercial Acts): Bao gồm hành vi thương mại theo bản chất, hành vi thương mại theo hình thức và hành vi thương mại phụ thuộc.
  • Kinh doanh du lịch: Hoạt động cung ứng dịch vụ lữ hành, lưu trú, vận chuyển và dịch vụ hỗ trợ nhằm đáp ứng nhu cầu du khách vì mục đích sinh lợi.
  • Quy chế pháp lý thương nhân: Tổng thể các quy phạm điều chỉnh điều kiện gia nhập thị trường (vào nghề), quyền và nghĩa vụ trong quá trình hoạt động hành nghề, cùng các điều kiện chấm dứt kinh doanh.
  • Sản nghiệp thương mại (Fonds de commerce): Tập hợp tài sản hữu hình và vô hình (tên thương mại, biển hiệu, khách hàng) phục vụ hoạt động kinh doanh của thương nhân.

Phương pháp nghiên cứu

Nguồn dữ liệu của luận văn được tổng hợp từ hệ thống văn bản quy phạm pháp luật Việt Nam, các cam kết gia nhập WTO của ngành dịch vụ du lịch, cùng số liệu thống kê từ Tổng cục Du lịch, Tổng cục Thống kê và Bộ Kế hoạch và Đầu tư giai đoạn 2005-2008.

Cỡ mẫu nghiên cứu quy phạm bao gồm 120 văn bản luật, nghị định, thông tư chuyên ngành du lịch và thương mại; đồng thời khảo sát dữ liệu hoạt động của 49.300 doanh nghiệp mới gia nhập thị trường trong 9 tháng đầu năm 2008 với tổng vốn đăng ký 377.100 tỷ đồng và nguồn vốn ngân sách 750 tỷ đồng hỗ trợ hạ tầng tại 59 tỉnh, thành phố. Phương pháp chọn mẫu phi xác suất có chủ đích (purposive sampling) được lựa chọn nhằm tập trung vào các nhóm quy phạm điều chỉnh trực tiếp 5 phân khúc kinh doanh du lịch cốt lõi.

Lý do lựa chọn phương pháp phân tích quy phạm kết hợp so sánh luật học (Comparative Law) và phương pháp thống kê mô tả là nhằm giải mã những xung đột pháp lý giữa luật chung và luật chuyên ngành, chỉ ra các khoảng trống lập pháp và đánh giá hiệu lực thực thi của quy chế thương nhân. Timeline nghiên cứu dữ liệu kéo dài trong 3 năm, từ khi Luật Du lịch 2005 có hiệu lực thi hành đến cuối năm 2008.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Thứ nhất, tồn tại độ trễ và sự thiếu tương thích trong quy trình gia nhập thị trường giữa pháp luật doanh nghiệp và pháp luật du lịch. Trong khi Luật Doanh nghiệp năm 2005 quy định thời hạn cấp Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh tối đa 10 ngày làm việc, thì quy trình thẩm định cấp Giấy phép kinh doanh lữ hành quốc tế và chứng nhận xếp hạng cơ sở lưu trú thực tế kéo dài từ 30 đến 45 ngày do vướng mắc thủ tục tiền kiểm tại các cơ quan quản lý chuyên ngành.

Thứ hai, cơ cấu thương nhân du lịch có sự chênh lệch lớn về năng lực cạnh tranh. Trong tổng số hơn 350.000 doanh nghiệp hoạt động trên cả nước năm 2008, hơn 85% doanh nghiệp kinh doanh dịch vụ du lịch là doanh nghiệp nhỏ và vừa, hoạt động dưới hình thức công ty trách nhiệm hữu hạn và doanh nghiệp tư nhân. Tỷ lệ này tạo ra áp lực lớn khi các doanh nghiệp nội địa phải cạnh tranh trực tiếp với các tập đoàn lữ hành và khách sạn quốc tế có tiềm lực vốn lớn gấp từ 10 đến 20 lần.

Thứ ba, cơ chế tài chính bảo đảm nghĩa vụ của thương nhân lữ hành quốc tế còn bất cập. Quy định mức tiền ký quỹ cố định từ 250 triệu đến 500 triệu đồng tại ngân hàng thương mại áp dụng cào bằng cho mọi quy mô doanh nghiệp đã vô hình trung tạo rào cản tài chính đối với các doanh nghiệp khởi nghiệp, trong khi chưa có cơ chế bảo hiểm trách nhiệm nghề nghiệp thay thế tương thích với thông lệ quốc tế.

Thứ tư, công tác quản lý hoạt động phát triển khu, điểm du lịch chưa tương xứng với tốc độ giải ngân vốn đầu tư công. Mặc dù nhà nước đã phân bổ 750 tỷ đồng cho 59 địa phương phát triển hạ tầng năm 2007, nhưng khung pháp lý quy định quyền hạn và trách nhiệm của thương nhân trong việc bảo vệ tài nguyên môi trường, cứu nạn cứu hộ và đóng góp quỹ bảo tồn chỉ đạt mức độ bao phủ dưới 50% yêu cầu thực tiễn.

Thảo luận kết quả

Nguyên nhân cốt lõi của những khiếm khuyết trên xuất phát từ tư duy quản lý hành chính can thiệp sâu vào thị trường, chưa phân định rành mạch giữa quản lý nhà nước về trật tự công và quyền tự do kinh doanh của thương nhân theo nguyên tắc thị trường tự do. Pháp luật du lịch năm 2005 bước đầu ghi nhận các phân ngành dịch vụ nhưng các văn bản dưới luật còn phân tán, thiếu tính kết nối với Luật Thương mại và Luật Đầu tư.

So với các mô hình quản trị tiên tiến như tại Đức hay Hoa Kỳ – nơi áp dụng chế định đăng bạ thương mại minh bạch và tăng cường kiểm tra hậu kiểm dựa trên các tiêu chuẩn dịch vụ tự nguyện – hệ thống pháp luật Việt Nam thời điểm 2008 vẫn nặng tính tiền kiểm, cấp phép con và áp đặt nghĩa vụ hành chính một chiều.

Dữ liệu nghiên cứu về phân bổ nguồn vốn 750 tỷ đồng hỗ trợ hạ tầng tại 59 địa phương và cơ cấu 49.300 doanh nghiệp thành lập mới có thể được trực quan hóa tối ưu thông qua bảng phân tích đa biến và biểu đồ cột kết hợp đường. Biểu đồ này minh họa rõ nét mối tương quan thuận giữa mức độ tinh giản điều kiện kinh doanh với tốc độ tăng trưởng doanh thu ngành du lịch qua các năm 2006-2008.

Đề xuất và khuyến nghị

Thứ nhất, cải cách toàn diện điều kiện vào nghề và cấp phép kinh doanh du lịch. Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch phối hợp với Bộ Kế hoạch và Đầu tư tiến hành cắt giảm 40% thời gian xử lý thủ tục cấp giấy phép lữ hành từ 10 ngày làm việc xuống còn tối đa 6 ngày làm việc, thực hiện chuyển đổi mô hình từ tiền kiểm sang hậu kiểm định kỳ từ năm 2009 đến năm 2011.

Thứ hai, hoàn thiện cơ chế ký quỹ linh hoạt và áp dụng bảo hiểm trách nhiệm du lịch. Ngân hàng Nhà nước và Bộ Tài chính sửa đổi quy định ký quỹ kinh doanh lữ hành trong thời hạn 12 tháng, cho phép phân tầng mức ký quỹ dựa trên lưu lượng khách phục vụ thực tế (giảm 20% gánh nặng tài chính cho doanh nghiệp lữ hành nội địa quy mô nhỏ), đồng thời thiết lập cơ chế bảo hiểm du lịch thay thế hạn mức ký quỹ tiền mặt.

Thứ ba, ban hành quy chuẩn quốc gia bắt buộc về an toàn và bảo hiểm dịch vụ du lịch. Tổng cục Du lịch chủ trì ban hành văn bản quy phạm yêu cầu 100% thương nhân vận chuyển du lịch và lữ hành phải trang bị bảo hiểm tai nạn cho hành khách với mức trách nhiệm tối thiểu 50 triệu đồng cho mỗi vụ việc, triển khai đồng bộ từ quý 1 năm 2010.

Thứ tư, minh bạch hóa quy hoạch và xã hội hóa quản lý khu điểm du lịch. Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương công khai 100% đồ án quy hoạch phát triển du lịch địa phương, áp dụng cơ chế đấu thầu minh bạch quyền khai thác kinh doanh tại các danh lam thắng cảnh, nâng hiệu quả giải ngân nguồn vốn đầu tư hạ tầng du lịch vượt mốc 1.000 tỷ đồng mỗi năm trong giai đoạn 2010-2015.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Nhóm 1: Cơ quan quản lý nhà nước và nhà hoạch định chính sách (Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch, Tổng cục Du lịch, Sở Du lịch các tỉnh). Nghiên cứu cung cấp cơ sở lý luận và so sánh pháp luật quốc tế để phục vụ công tác rà soát, sửa đổi Luật Du lịch và các nghị định hướng dẫn thi hành.

Nhóm 2: Doanh nghiệp và chủ cơ sở kinh doanh dịch vụ du lịch. Giúp người quản lý nắm vững toàn diện quyền và nghĩa vụ pháp lý, thực hiện đúng các quy định về đăng ký kinh doanh, chế độ sổ sách kế toán, thời hạn báo cáo tài chính trong khoảng 30 đến 90 ngày và kê khai thuế trong 10 ngày để phòng ngừa rủi ro pháp lý.

Nhóm 3: Luật sư và chuyên viên tư vấn pháp lý thương mại. Sử dụng tài liệu như một cẩm nang đối chiếu khi tư vấn thành lập doanh nghiệp du lịch, đàm phán hợp đồng đại lý lữ hành, xin cấp phép vận tải du lịch và xử lý các vụ việc giải thể, tái cấu trúc công ty.

Nhóm 4: Giảng viên, nghiên cứu sinh và học viên cao học chuyên ngành Luật Kinh tế, Luật Thương mại quốc tế. Đề tài đóng vai trò nguồn tư liệu tham khảo hệ thống về lý luận thể nhân, pháp nhân thương mại và phương pháp luận phân tích luật học so sánh.

Câu hỏi thường gặp

Thương nhân trong kinh doanh du lịch gồm những chủ thể nào theo pháp luật Việt Nam? Thương nhân du lịch bao gồm các tổ chức kinh tế thành lập hợp pháp (công ty cổ phần, công ty trách nhiệm hữu hạn, công ty hợp danh, doanh nghiệp tư nhân) và cá nhân hoạt động thương mại độc lập, thường xuyên có đăng ký kinh doanh. Theo Điều 38 Luật Du lịch 2005, thương nhân hoạt động trong 5 nhóm ngành nghề: lữ hành, lưu trú, vận chuyển khách, phát triển khu điểm du lịch và dịch vụ du lịch khác.

Điều kiện bắt buộc để thương nhân kinh doanh dịch vụ lữ hành quốc tế là gì? Thương nhân phải có giấy phép kinh doanh lữ hành quốc tế do cơ quan quản lý nhà nước về du lịch cấp. Điều kiện gồm: có phương án kinh doanh lữ hành khả thi, người điều hành hoạt động có ít nhất 4 năm kinh nghiệm trong nghề lữ hành, đội ngũ hướng dẫn viên đủ chuẩn và thực hiện ký quỹ ngân hàng từ 250 triệu đến 500 triệu đồng.

Thương nhân kinh doanh du lịch phải thực hiện những nghĩa vụ kế toán và thuế nào? Thương nhân phải đăng ký nộp thuế trong vòng 10 ngày kể từ khi được cấp giấy phép kinh doanh, mở sổ kế toán ghi chép đầy đủ hóa đơn chứng từ. Với hóa đơn bán hàng dưới 100.000 đồng không bắt buộc xuất lẻ từng lần nhưng phải lập bảng kê chi tiết theo quy định; đồng thời nộp báo cáo tài chính năm trong hạn 30 đến 90 ngày.

Sự khác biệt cốt lõi giữa thương gia thể nhân và thương gia pháp nhân trong ngành du lịch là gì? Thương gia thể nhân (chủ hộ kinh doanh, doanh nghiệp tư nhân) chịu trách nhiệm vô hạn bằng toàn bộ tài sản cá nhân đối với các khoản nợ kinh doanh. Ngược lại, thương gia pháp nhân (công ty cổ phần, công ty trách nhiệm hữu hạn) có tài sản độc lập, tư cách tố tụng riêng và các thành viên chỉ chịu trách nhiệm hữu hạn trong phạm vi phần vốn góp đã cam kết.

Khi tạm ngừng hoạt động kinh doanh du lịch, thương nhân cần tuân thủ thủ tục gì? Doanh nghiệp phải gửi thông báo bằng văn bản đến cơ quan đăng ký kinh doanh và cơ quan thuế chậm nhất 15 ngày trước khi tạm ngừng. Trong thời gian tạm dừng hoạt động, thương nhân vẫn phải chịu trách nhiệm nộp đủ số thuế còn nợ, thanh toán các khoản nợ đến hạn và hoàn thành đầy đủ nghĩa vụ hợp đồng đã ký kết với khách du lịch.

Kết luận

  • Luận văn là công trình khoa học đầu tiên nghiên cứu toàn diện, chuyên sâu về quy chế pháp lý của thương nhân du lịch tại Việt Nam ở cấp độ thạc sĩ luật học.
  • Hệ thống hóa sâu sắc lý luận về thương nhân, hành vi thương mại và sản nghiệp thương nghiệp dựa trên nghiên cứu đối sánh với pháp luật của Pháp, Đức, Séc và Hoa Kỳ.
  • Đánh giá thẳng thắn thực trạng pháp lý kinh doanh du lịch giai đoạn 2005-2008, chỉ rõ các điểm nghẽn về thủ tục cấp phép con, rào cản ký quỹ và lỗ hổng quản lý khu du lịch.
  • Đề xuất 4 nhóm giải pháp mang tính đột phá nhằm đơn giản hóa thủ tục hành chính, tối ưu hóa cơ chế ký quỹ và nâng cao tính chuyên nghiệp cho thị trường du lịch.
  • Hoàn thiện thể chế thương nhân du lịch là yêu cầu cấp thiết để nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia trong kỷ nguyên hội nhập; độc giả và các nhà nghiên cứu quan tâm có thể khai thác trực tiếp toàn văn luận văn tại thư viện Khoa Luật – Đại học Quốc gia Hà Nội để phục vụ công tác chuyên môn.