Tổng quan nghiên cứu
Ngành du lịch Việt Nam đang khẳng định vị thế là ngành kinh tế mũi nhọn, đóng góp trực tiếp từ 7,5% đến 9,2% vào tổng sản phẩm quốc nội (GDP) và tạo ra hơn 2,5 triệu việc làm trên phạm vi toàn quốc. Sự gia tăng nhanh chóng của hơn 2.000 doanh nghiệp lữ hành quốc tế cùng hơn 20.000 cơ sở lưu trú và đại lý du lịch đã đặt ra yêu cầu cấp thiết về việc hoàn thiện hành lang pháp lý điều chỉnh các chủ thể này. Vấn đề nghiên cứu trọng tâm của luận văn xuất phát từ những bất cập thực tiễn khi Luật Du lịch năm 2005 bộc lộ nhiều điểm không còn phù hợp với sự phát triển năng động của nền kinh tế thị trường, tồn tại sự chồng chéo với Luật Doanh nghiệp, Luật Đầu tư và các cam kết thương mại quốc tế khi Việt Nam gia nhập Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO).
Mục tiêu cụ thể của luận văn là làm sáng tỏ hệ thống lý luận về quy chế pháp lý của công ty du lịch, phân tích toàn diện thực trạng các quy định pháp luật điều chỉnh hoạt động lữ hành tại Việt Nam trong giai đoạn 2005 - 2017, từ đó xây dựng hệ thống giải pháp nâng cao hiệu quả thực thi pháp luật trước thềm Luật Du lịch năm 2017 chính thức có hiệu lực. Phạm vi nghiên cứu tập trung chuyên sâu vào các công ty du lịch hoạt động trong lĩnh vực kinh doanh lữ hành nội địa và quốc tế trên lãnh thổ Việt Nam. Ý nghĩa nghiên cứu của đề tài thể hiện qua việc cung cấp cơ sở khoa học để chuẩn hóa các điều kiện kinh doanh, góp phần giảm thiểu trên 35% tình trạng cạnh tranh không lành mạnh, nâng cao chất lượng phục vụ cho hơn 60 triệu lượt khách nội địa và 10 triệu lượt khách quốc tế mỗi năm, đồng thời bảo vệ vững chắc quyền lợi hợp pháp của người tiêu dùng du lịch.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Khung lý thuyết áp dụng
Nghiên cứu được xây dựng trên nền tảng của 2 hệ thống lý thuyết nền tảng: Lý thuyết về thương nhân và chủ thể kinh doanh trong luật thương mại, kết hợp với Lý thuyết điều tiết của Nhà nước đối với các ngành nghề kinh doanh có điều kiện. Luận văn chuẩn hóa và phát triển 4 khái niệm cốt lõi:
Thứ nhất, quy chế pháp lý của công ty du lịch được tiếp cận theo định nghĩa của Viện Khoa học Pháp lý thuộc Bộ Tư pháp năm 2006 và tinh thần Điều 1832 Bộ luật Dân sự Cộng hòa Pháp, xác định đây là tổng thể các quy phạm pháp luật xác lập địa vị pháp lý, quyền, nghĩa vụ và trách nhiệm của doanh nghiệp du lịch trong quan hệ với Nhà nước, đối tác và khách hàng.
Thứ hai, hoạt động du lịch theo chuẩn mực của Tổ chức Du lịch Thế giới (UNWTO), khẳng định du lịch là tổng hòa các mối quan hệ bắt nguồn từ các chuyến hành trình và lưu trú của con người bên ngoài nơi cư trú thường xuyên.
Thứ ba, kinh doanh lữ hành (Tour Operators Business), bao gồm các hoạt động nghiên cứu thị trường, thiết lập, quảng bá và tổ chức thực hiện các chương trình du lịch trọn gói hoặc từng phần nhằm mục đích sinh lời.
Thứ tư, đại lý lữ hành (Travel Agency Business), đóng vai trò phân phối trung gian theo hợp đồng đại lý và hưởng hoa hồng. Mô hình nghiên cứu làm rõ mối quan hệ ràng buộc giữa 3 cấu phần: điều kiện gia nhập thị trường, quy chế thực hiện hợp đồng dịch vụ và thủ tục rút lui khỏi thị trường.
Phương pháp nghiên cứu
Nguồn dữ liệu của luận văn được tổng hợp từ hơn 30 văn bản quy phạm pháp luật (Luật Du lịch năm 2005, Luật Doanh nghiệp, Bộ luật Dân sự, các Nghị định và Thông tư hướng dẫn), cùng 15 báo cáo chuyên ngành định kỳ của Tổng cục Du lịch Việt Nam từ năm 2008 đến năm 2016. Luận văn kết hợp chặt chẽ các phương pháp nghiên cứu pháp lý truyền thống và hiện đại: phương pháp mô tả quy phạm, phương pháp phân tích luật học, phương pháp phân loại chủ thể và phương pháp so sánh luật học với các quốc gia phát triển du lịch trong khu vực Đông Á.
Để đảm bảo tính khách quan và thực tiễn, nghiên cứu tiến hành khảo sát cỡ mẫu gồm 120 hồ sơ doanh nghiệp lữ hành và các vụ việc tranh chấp dịch vụ du lịch điển hình tại 3 địa bàn trọng điểm là Hà Nội, Đà Nẵng và Thành phố Hồ Chí Minh. Phương pháp chọn mẫu có chủ đích (purposive sampling) được áp dụng nhằm tập trung vào các công ty cổ phần, công ty trách nhiệm hữu hạn và doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) đang nắm giữ trên 75% thị phần khách du lịch. Lý do lựa chọn phương pháp phân tích quy phạm kết hợp đối chiếu thực tiễn là nhằm vạch rõ những khoảng trống pháp lý, sự thiếu đồng bộ giữa pháp luật chuyên ngành và pháp luật chung, tạo tiền đề vững chắc cho việc kiến nghị sửa đổi quy phạm một cách khoa học. Timeline nghiên cứu được thực hiện xuyên suốt trong khoảng thời gian từ năm 2014 đến năm 2017.
Kết quả nghiên cứu và thảo luận
Những phát hiện chính
Quá trình phân tích thực trạng pháp luật đã mang lại 4 phát hiện căn bản:
Thứ nhất, về sự lựa chọn mô hình tổ chức doanh nghiệp: Có tới 93% các công ty du lịch lữ hành quốc tế tại Việt Nam đăng ký hoạt động dưới hình thức Công ty Trách nhiệm hữu hạn hoặc Công ty Cổ phần. Tỷ lệ lựa chọn mô hình Công ty Hợp danh chỉ chiếm dưới 0,5% do chế độ trách nhiệm vô hạn mang lại rủi ro quá lớn cho các thành viên hợp danh trong một ngành có độ rủi ro cao như lữ hành. Doanh nghiệp nhà nước chiếm tỷ trọng dưới 6,5% và đang có xu hướng giảm dần qua tiến trình cổ phần hóa.
Thứ hai, về nghĩa vụ ký quỹ tài chính: 100% doanh nghiệp lữ hành quốc tế phải thực hiện mức ký quỹ từ 250 triệu đến 500 triệu đồng tại ngân hàng thương mại tùy theo phạm vi đón khách vào Việt Nam hay đưa khách ra nước ngoài. Tuy nhiên, hơn 40% doanh nghiệp phản ánh quy chế phong tỏa và thủ tục sử dụng tiền ký quỹ để bồi hoàn cho khách hàng khi phát sinh tranh chấp còn quá rườm rà, làm giảm tính thanh khoản của đồng vốn mà chưa thực sự phát huy tối đa hiệu quả cứu hộ khách du lịch.
Thứ ba, về năng lực nhân sự và điều kiện cấp thẻ hướng dẫn viên: Trên 65% công ty lữ hành gặp khó khăn trong việc đáp ứng định mức duy trì tối thiểu 3 hướng dẫn viên du lịch quốc tế cơ hữu theo quy định của Luật Du lịch năm 2005, dẫn đến tình trạng mượn thẻ hướng dẫn viên hoặc thuê mướn lao động thời vụ không ký hợp đồng dài hạn, làm suy giảm chất lượng tour tuyến.
Thứ tư, về phương thức chấm dứt hoạt động: Khi kết thúc chu kỳ kinh doanh, có tới 88% công ty du lịch lựa chọn thủ tục giải thể tự nguyện thay vì nộp đơn phá sản doanh nghiệp. Nguyên nhân là do quy trình phá sản theo Luật Phá sản đòi hỏi thủ tục phức tạp và thời gian xử lý kéo dài trung bình từ 18 đến 30 tháng, khiến các chủ nợ và người lao động chịu nhiều thiệt hại kéo dài.
Thảo luận kết quả
Kết quả nghiên cứu cho thấy khoảng cách lớn giữa quy định trên văn bản và thực tiễn thi hành. Điểm nghẽn lớn nhất xuất phát từ tư duy quản lý hành chính mang tính bao cấp, chưa tiếp cận hoạt động lữ hành theo cơ chế thị trường mở. Các nghiên cứu trước đây của tác giả Phùng Thị Thanh Hiền năm 2008 và Lê Công Bằng năm 2014 mới chỉ dừng lại ở việc khái quát hóa thương nhân du lịch hoặc liệt kê các loại hình kinh doanh. Luận văn này đã tiến xa hơn khi bóc tách cụ thể từng quyền và nghĩa vụ hợp đồng của công ty lữ hành trong mối quan hệ đa phương với khách du lịch, nhà cung cấp dịch vụ vận chuyển, lưu trú và đại lý bán tour.
Dữ liệu thực trạng có thể được hệ thống hóa rõ nét qua Bảng phân định điều kiện pháp lý giữa doanh nghiệp lữ hành nội địa và lữ hành quốc tế (bao gồm mức vốn ký quỹ, trình độ người điều hành, số lượng hướng dẫn viên) và Biểu đồ cơ cấu mô hình doanh nghiệp lữ hành tại Việt Nam. Sự chênh lệch tỷ lệ áp đảo giữa công ty trách nhiệm hữu hạn và công ty hợp danh là minh chứng rõ nét cho thấy nhà đầu tư luôn ưu tiên cơ chế phân tán rủi ro tài chính. Bên cạnh đó, việc Luật Du lịch năm 2005 chưa quy định chi tiết về hợp đồng điện tử và bảo hiểm trách nhiệm nghề nghiệp lữ hành đã tạo ra những lỗ hổng pháp lý nghiêm trọng, dẫn đến tình trạng cạnh tranh phá giá tour và trốn tránh bồi thường khi phát sinh sự cố bất khả kháng.
Đề xuất và khuyến nghị
Nhằm nâng cao hiệu lực thực thi pháp luật và tạo hành lang thông thoáng cho công ty du lịch phát triển bền vững, luận văn đưa ra 4 nhóm giải pháp chiến lược:
Thứ nhất, hoàn thiện hệ thống văn bản hướng dẫn Luật Du lịch mới: Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch cần chủ trì xây dựng các Nghị định hướng dẫn thi hành theo hướng bãi bỏ ít nhất 30% các điều kiện kinh doanh mang tính hình thức, chuyển mạnh từ tiền kiểm sang hậu kiểm. Cần ban hành mẫu hợp đồng lữ hành chuẩn và hợp đồng đại lý lữ hành chuẩn, quy định rõ điều khoản bất khả kháng và bảo hiểm du lịch bắt buộc trong lộ trình từ năm 2018 đến năm 2020.
Thứ hai, cải cách cơ chế quản lý tiền ký quỹ kinh doanh lữ hành: Ngân hàng Nhà nước Việt Nam phối hợp với Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch ban hành quy chế liên ngành, quy định thời hạn tối đa 72 giờ để phong tỏa hoặc giải ngân tiền ký quỹ nhằm khắc phục sự cố khẩn cấp và bảo vệ an toàn cho du khách khi doanh nghiệp lữ hành mất khả năng chi trả.
Thứ ba, siết chặt công tác thanh tra, kiểm tra và xử lý vi phạm: Thanh tra Du lịch tại 63 tỉnh, thành phố cần tăng tần suất kiểm tra định kỳ hàng năm lên mức 100% đối với các chi nhánh, văn phòng đại diện và đại lý lữ hành. Tăng mức xử phạt vi phạm hành chính từ 50% đến 100% đối với các hành vi kinh doanh lữ hành không có giấy phép, chuyển nhượng giấy phép trái phép hoặc sử dụng hướng dẫn viên không có thẻ hành nghề.
Thứ tư, nâng cao năng lực nguồn nhân lực và vai trò của tổ chức xã hội - nghề nghiệp: Hiệp hội Du lịch Việt Nam và Hiệp hội Lữ hành cần phối hợp với các cơ sở đào tạo luật tổ chức các khóa bồi dưỡng pháp luật định kỳ cho hơn 5.000 cán bộ điều hành tour và giám đốc doanh nghiệp lữ hành trong giai đoạn từ năm 2018 đến năm 2025.
Đối tượng nên tham khảo luận văn
Nhóm 1: Cơ quan quản lý nhà nước và ban soạn thảo chính sách. Luận văn cung cấp luận cứ thực tiễn và cơ sở khoa học sắc bén cho Tổng cục Du lịch, Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch trong việc xây dựng văn bản quy phạm pháp luật, sửa đổi các quy chế cấp phép và thiết kế cơ chế thanh tra chuyên ngành.
Nhóm 2: Ban điều hành, chủ sở hữu và nhà đầu tư công ty du lịch. Tài liệu là cẩm nang pháp lý hữu ích giúp các nhà quản trị nhận diện và phòng ngừa 4 nhóm rủi ro thường gặp về hợp đồng lữ hành, tranh chấp đại lý, nghĩa vụ ký quỹ và nghĩa vụ bồi thường thiệt hại dân sự đối với khách du lịch.
Nhóm 3: Giảng viên, học viên cao học và sinh viên các ngành Luật học, Du lịch học. Luận văn đóng vai trò là nguồn tài liệu tham khảo có giá trị học thuật cao với hơn 50 danh mục tài liệu nghiên cứu chọn lọc phục vụ công tác giảng dạy môn Luật Thương mại, Luật Kinh tế và Pháp luật Du lịch.
Nhóm 4: Luật sư, chuyên viên tư vấn pháp lý và trọng tài viên thương mại. Công trình cung cấp hệ thống căn cứ pháp lý và phương pháp luận rõ ràng để giải quyết các vụ việc tranh chấp hợp đồng dịch vụ lữ hành, tư vấn thủ tục tái cấu trúc, mua bán - sáp nhập và giải thể doanh nghiệp du lịch trên cả nước.
Câu hỏi thường gặp
-
Tại sao công ty kinh doanh lữ hành quốc tế bắt buộc phải nộp tiền ký quỹ ngân hàng? Theo Luật Du lịch, kinh doanh lữ hành là ngành nghề có điều kiện mang tính rủi ro cao. Khoản tiền ký quỹ từ 250 triệu đến 500 triệu đồng gửi tại ngân hàng là biện pháp bảo đảm nghĩa vụ dân sự bắt buộc, nhằm thanh toán chi phí hồi hương, cứu hộ khẩn cấp hoặc bồi thường thiệt hại cho du khách khi công ty vi phạm hợp đồng hoặc phá sản.
-
Đại lý lữ hành khác công ty kinh doanh lữ hành ở những giới hạn quyền hạn nào? Đại lý lữ hành chỉ đóng vai trò trung gian bán chương trình du lịch của công ty lữ hành cho khách hàng để hưởng hoa hồng từ 5% đến 10%. Đại lý tuyệt đối không được tự ý thiết kế tour, không được tự tổ chức thực hiện tour và không được bán tour với giá cao hơn mức giá doanh nghiệp giao đại lý đã niêm yết.
-
Vì sao các công ty du lịch tại Việt Nam hầu như không lựa chọn mô hình công ty hợp danh? Trong hoạt động du lịch, nguy cơ phát sinh bồi thường thiệt hại do tai nạn, dịch bệnh hay thời tiết chiếm tới trên 50% rủi ro thực tế. Mô hình công ty hợp danh đòi hỏi các thành viên phải chịu trách nhiệm liên đới vô hạn bằng toàn bộ tài sản cá nhân, điều này tạo ra rủi ro tài chính quá mức so với mô hình công ty trách nhiệm hữu hạn.
-
Doanh nghiệp du lịch có vốn đầu tư nước ngoài tại Việt Nam chịu những giới hạn gì? Căn cứ theo cam kết WTO và Luật Du lịch, nhà đầu tư nước ngoài chỉ được kinh doanh lữ hành tại Việt Nam dưới hình thức liên doanh với doanh nghiệp Việt Nam có giấy phép lữ hành quốc tế. Doanh nghiệp liên doanh này chỉ được phép kinh doanh lữ hành đón khách quốc tế vào Việt Nam (inbound), không được phép kinh doanh đưa khách Việt Nam ra nước ngoài (outbound).
-
Những căn cứ pháp lý nào là trọng tâm khi xử lý tranh chấp hợp đồng lữ hành? Khi xảy ra tranh chấp, các bên căn cứ vào Bộ luật Dân sự, Luật Du lịch, hợp đồng lữ hành đã giao kết bằng văn bản và các điều khoản miễn trừ trách nhiệm do sự kiện bất khả kháng. Việc không quy định rõ tiêu chuẩn dịch vụ và phạm vi bảo hiểm trong hợp đồng là nguyên nhân dẫn đến hơn 60% thất bại khi khởi kiện.
Kết luận
- Luận văn hệ thống hóa toàn diện cơ sở lý luận về quy chế pháp lý của công ty du lịch, khẳng định đây là công cụ pháp lý then chốt điều tiết thị trường du lịch lữ hành vận hành an toàn.
- Phân tích và chứng minh tính ưu việt của loại hình Công ty Cổ phần và Công ty Trách nhiệm hữu hạn với hơn 90% doanh nghiệp lữ hành tin tưởng lựa chọn nhằm tối ưu hóa sự an toàn về vốn.
- Chỉ rõ những bất cập của cơ chế ký quỹ, cấp giấy phép và định mức hướng dẫn viên trong Luật Du lịch năm 2005, tạo cơ sở thực tiễn vững chắc cho việc sửa đổi luật.
- Phân định rõ ràng quyền, nghĩa vụ và trách nhiệm pháp lý giữa hoạt động kinh doanh lữ hành trực tiếp và hoạt động đại lý lữ hành trung gian.
- Đề xuất đồng bộ 4 nhóm giải pháp thể chế, hành chính và nhân lực nhằm đón đầu việc triển khai thi hành Luật Du lịch năm 2017 một cách hiệu quả.
Đóng góp lớn nhất của luận văn là công trình chuyên khảo đầu tiên nghiên cứu có hệ thống và chuyên sâu về địa vị pháp lý của công ty du lịch tại Việt Nam dưới góc độ luật học. Trong giai đoạn phát triển tiếp theo từ năm 2018 đến năm 2025, hướng nghiên cứu cần mở rộng sang khung pháp lý cho các đại lý du lịch trực tuyến (OTA) và mô hình kinh doanh du lịch thông minh trên nền tảng kinh tế số. Các nhà quản lý, nhà nghiên cứu và cộng đồng doanh nghiệp cần tích cực ứng dụng các đề xuất trong luận văn để kiến tạo một môi trường kinh doanh du lịch minh bạch, văn minh và hội nhập quốc tế sâu rộng.