chương 1, cùng với nội dung Tổng quan về ASEAN, tác giả trình bày một số điểm lý luận chung về hơp tác phát triển dịch vụ du lịch; khái quát quá trình hợp tác phát triển dịch vụ du lịch trong Cộng đồng ASEAN và các nội dung chính trong việc hợp tác phát triển dịch vụ du lịch ASEAN. Khái quát chung về ASEAN Nghiên cứu về nội dung hợp tác phát triển dịch vụ du lịch của ASEAN không thể không có những hiểu biết khái quát về cơ chế hợp tác ASEAN và quá trình hình thành và phát triển của ASEAN. Tại mục này, tác giả trình bày các nội dung: Quá trình hình thành và phát triển của ASEAN; Cơ cấu tổ chức của ASEAN; Mục đích và nguyên tắc hoạt động của ASEAN; và Vai trò của ASEAN.1 Quá trình hình thành và phát triển của ASEAN 13 z ASEAN ra đời vào ngày 08/08/1967 trên cơ sở Tuyên bố Bangkok được thông qua tại Hội nghị bộ trưởng ngoại giao 5 quốc gia là Thái Lan, Malaysia, Indonesia, Singapore và Philippines. Sự hình thành ASEAN đã đặt nền móng cho sự hợp tác và phát triển trong mọi lĩnh vực của các quốc gia Đông Nam Á trong những năm sau này.
Quá trình hình thành và phát triển ASEAN có thể chia làm 4 giai đoạn: Giai đoạn hình thành và phát triển; Giai đoạn củng cố cơ cấu tổ chức và tiến lên hợp tác toàn diện nội khối và bước đầu phát triển hợp tác ngoại khối; Giai đoạn trở thành ASEAN 10 và hợp tác toàn diện mà trọng tâm là hợp tác kinh tế; Giai đoạn xây dựng Cộng đồng ASEAN. Giai đoạn từ khi thành lập đến trước Hội nghị Bali năm 1976 (Giai đoạn hình thành và định hướng phát triển): Ở giai đoạn này, cơ cấu tổ chức của ASEAN còn chưa hoàn chỉnh, thậm chí Ban thư ký – cơ quan thường trực mà bất kỳ tổ chức quốc tế nào cũng có còn chưa được thành lập. Đây là một trong những lý do mà thời kỳ này, ASEAN bị giới quan sát quốc tế chỉ coi là “liên minh chính trị lỏng lẻo”. Do nhiều nguyên nhân chủ quan, khách quan khác nhau nên giai đoạn này, ASEAN hầu như chưa có hoạt động nào đáng kể, trừ một số hoạt động đáng lưu ý sau: - Thông qua tuyên bố ZOPFAN (A Zone of Peace, Freedom and Neutrality) về khu vực hòa bình, tự do, trung lập tại Kuala Lumpur ngày 17/11/1971, mở ra thời kỳ mới cho sự phát triển của ASEAN, thể hiện mong muốn xây dựng Đông Nam Á thành khu vực trung lập, hòa bình, ổn định mà không có bất cứ hình thức can thiệp nào từ phía bên ngoài.
- Thực hiện một số hoạt động ngoại giao, kinh tế đơn lẻ: Đồng loạt công nhận quan hệ ngoại giao với Việt Nam và Bangladesh, cùng thỏa thuận ý kiến trước khi biểu quyết những vấn đề cụ thể ở Liên hợp quốc hoặc cùng phối hợp lên tiếng phản đối một cách có kết quả chống lại việc cao su tổng hợp của Nhật 14 z Bản cạnh tranh cao với cao su tự nhiên vốn là sản phẩm xuất khẩu chủ lực của nhiều quốc gia trong khối. Tóm lại, trong giai đoạn đầu sau khi thành lập, các hoạt động của ASEAN mới chỉ dừng lại ở mức độ tạo ra nền tảng hợp tác lâu dài và khởi động các hoạt động hợp tác bằng một số hoạt động chung (chủ yếu nhằm giải quyết các vấn đề chính trị trong và ngoài nước) nhằm tăng cường hiểu biết lẫn nhau. Giai đoạn từ Hội nghị Bali 1976 đến trước Hội nghị thượng đỉnh lần thứ tư năm 1992 (giai đoạn củng cố cơ cấu tổ chức và tiến lên hợp tác toàn diện nội khối và bước đầu phát triển hợp tác ngoại khối): Trong giai đoạn này, ASEAN đạt được một số kết quả đáng chú ý: - Xác lập các nguyên tắc tổ chức, hoạt động và hợp tác của ASEAN. - Thông qua các văn kiện pháp lý quan trọng làm nền tảng cho sự hợp tác và phát triển của ASEAN như Hiệp ước thân thiện và hợp tác Đông Nam Á (Hiệp ước Bali năm 1976), Tuyên bố về sự hòa hợp ASEAN năm 1976, Hiệp định thành lập Ban thư ký ASEAN năm 1976, Tuyên bố Manila năm 1987, Hiệp ước Khuyến khích và bảo hộ đầu tư và Nghị định thư về mở rộng danh mục thuế ưu đãi theo thỏa thuận ưu đãi buôn bán ASEAN 1987.
- Mở rộng lĩnh vực hợp tác nội khối đặc biệt là trong lĩnh vực thương mại, đầu tư. Điển hình là 3 kế hoạch lớn đã được thông qua và đưa vào triển khai: Dự án công nghiệp ASEAN – AIPs năm 1976, Kế hoạch bổ sung công nghiệp – AIC 1981, các liên Doanh công nghiệp ASEAN – AIJV năm 1983; Ký Thỏa thuận thương mại ưu đãi PTA cho cả khối; chủ trương thiết lập AFTA. - Bước đầu phát triển hợp tác ngoại khối (thiết lập cơ chế đối thoại với các quốc gia công nghiệp phát triển). Trong những năm đầu của giai đoạn này, ASEAN liên tục thiết lập và đối thoại đầy đủ với các quốc gia như Mỹ, Nhật Bản, Canada, New Zealand, EEC và tổ chức của Liên hợp quốc (thông qua Chương trình phát triển của Liên hợp quốc –UNDP).
Các hoạt động hợp tác được triển 15 z khai qua 3 kênh: Hội nghị sau Hội nghị ngoại trưởng, các cuộc họp giữa ASEAN với các bên đối thoại, Ủy ban ASEAN ở thủ đô quốc gia đối thoại. - Củng cố cơ cấu tổ chức: Hình thành cơ chế Hội nghị liên bộ trưởng, thành lập Ban thư ký và kết nạp Brunei (năm 1984). Giai đoạn từ Hội nghị thượng đỉnh lần thứ tư năm 1992 đến trước thời điểm thành lập Cộng đồng ASEAN 2003 (giai đoạn trở thành ASEAN 10 và hợp tác toàn diện mà trọng tâm là hợp tác kinh tế): Đây là giai đoạn mà ASEAN đạt được nhiều thành tựu to lớn, tiến hành hợp tác trên tất cả các lĩnh vực, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, tiến bộ xã hội, phát triển văn hóa và tăng cường hòa bình, ổn định khu vực. Những thành tựu của ASEAN thể hiện thông qua một số hoạt động chủ yếu sau: - Kết nạp thành viên mới gồm: Việt Nam (1995), Lào, Myanmar (1997), Campuchia (1999), nâng ASEAN từ ASEAN 6 trở thành ASEAN 10.
- Xây dựng khu vực thương mại tự do ASEAN (AFTA)1. - Thành lập diễn đàn khu vực ASEAN – ARF năm 19942. - Hoàn thiện cơ cấu tổ chức. - Thông qua các văn kiện pháp lý quốc tế quan trọng như: Hiệp định khung về tăng cường hợp tác kinh tế ASEAN năm 1992, Hiệp định về chương trình ưu đãi thuế quan có hiệu lực chung (CEPT) năm 1992, Tuyên bố về Biển Đông năm 1992, Hiệp định khung về hợp tác nông nghiệp AICO, Tầm nhìn ASEAN 1 Khu vực mậu dịch tự do ASEAN (AFTA) là một hiệp định thương mại tự do đa phương giữa các nước trong khối ASEAN.
Theo đó sẽ thực hiện tiến trình giảm dần thuế quan xuống 0-5%, loại bỏ dần hàng rào thuế quan đối với đa phần các nhóm hàng và hài hòa hóa thủ tục hải quan giữa các nước. Hiệp định về AFTA được ký kết vào năm 1992 tại Singapore, ban đầu chỉ có 6 nước ASEAN -6. Các nước CLMV được yêu cầu tham gia AFTA khi được kết nạp vào khối này. 2 ARF (ASEAN Regional Forum) được thành lập nhằm thúc đẩy cơ chế đối thoại và tham vấn về các vấn đề an ninh và chính trị trong khu vực, xây dựng long tin và phát triển ngoại giao phòng ngừa.
Khẩu hiệu của ARF là “Xúc tiến hòa bình và an ninh qua đối thoại và hợp tác ở Châu Á – Thái Bình Dương”. ARF gồm 27 quốc gia cùng có mối quan tâm đến an ninh khu vực Châu Á – Thái Bình Dương. Đó là 10 quốc gia thành viên của ASEAN; 10 nước đối tác đối thoại của ASEAN (bao gồm Úc, Canada, Trung Quốc, EU, Ấn Độ, Nhật Bản, New Zealand, Hàn Quốc, Nga và Hoa Kỳ), một quan sát viên của ASEAN là Papua New Guinea, cùng với Cộng hòa dân chủ nhân dân Triều Tiên, Mông Cổ và Pakistan. Đông Timo được kết nạp và ARF năm 2005.
16 z 2020 năm 1997, Tuyên bố Hà Nội năm 1998, Chương trình hành động Hà Nội năm 1998, Tuyên bố về ứng xử của các bên ở Biển Đông năm 2002. - Tổ chức Hội nghị cấp cao Đông Nam Á (EAS) lần đầu tiên tại Kuala Lampur năm 2005, với sự tham gia của ASEAN, Trung Quốc, Nhật Bản, Hàn Quốc, Ấn Độ, Australia và New Zealand. Giai đoạn từ thời điểm thành lập Cộng đồng ASEAN năm 2003 đến nay (Giai đoạn xây dựng Cộng đồng ASEAN): Trong giai đoạn này, ASEAN đã có những bước tiến quan trọng thúc đẩy hợp tác của ASEAN lên tầm cao mới, tăng cường tổ chức và hiệu quả hợp tác nội khối, tạo thể chế và địa vị pháp lý cho quan hệ hợp tác của ASEAN với bên ngoài. - Tại Hội nghị cấp cao lần thứ 9 (tháng 10/2003), các thành viên ASEAN đã thông qua Tuyên bố về sự hòa hợp ASEAN (Tuyên bố Bali II), tái khẳng định những mục tiêu và nguyên tắc cơ bản của Hiệp hội, tăng cường đoàn kết tiến tới việc hình thành Cộng đồng ASEAN vững mạnh, liên kết chặt chẽ, tự cường và năng động, hành động hiệu quả như đã nêu trong văn kiện Tầm nhìn ASEAN 2020 và Chương trình hành động Hà Nội năm 1998.
Cộng đồng ASEAN được xây dựng dựa trên ba trụ cột là: Cộng đồng chính trị - an ninh, Cộng đồng Kinh tế và Cộng đồng Văn hóa – xã hội. Các quốc gia thành viên đang nỗ lực đạt những mục tiêu trong Tầm nhìn ASEAN 2020 vào năm 2015 (tiến trình rút ngắn 5 năm so với dự định). - Một trong những bước phát triển quan trọng của ASEAN là thông qua Hiến chương ASEAN (Hiến chương được ký ngày 20/11/2007 và có hiệu lực từ ngày 15/12/2008), chính thức trao tư cách pháp nhân cho tổ chức ASEAN, tạo nền tảng pháp lý và thể chế để ASEAN xây dựng thành công Cộng đồng ASEAN. - Tháng 2/2009, tại Hội nghị cấp cao ASEAN lần thứ 14 tại Hua Hin (Thái Lan), Lộ trình xây dựng Cộng đồng ASEAN đã được thông qua, bao gồm kế hoạch tổng thể xây dựng các trụ cột cộng đồng, Cộng đồng Chính trị - an ninh, Cộng đồng Kinh tế và Cộng đồng Văn hóa – xã hội ASEAN.
17 z Có thể thấy rằng quá trình hình thành ASEAN trong hơn 50 năm qua là thắng lợi lớn của tư tưởng hòa bình, tự cường dân tộc kết hợp với tự cường khu vực, của những tư tưởng hợp tác và phát triển. ASEAN có vị thế quốc tế như ngày nay bởi đã hoạch định đường lối xây dựng và phát triển phù hợp với xu thế của thời đại.