phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, Luận văn gồm ba chƣơng: Chƣơng 1: Cơ sở lý luận của việc Quốc hội quyết định các vấn đề quan trọng của đất nƣớc về kinh tế - xã hội Chƣơng 2: Thực trạng hoạt động của Quốc hội trong việc quyết định các vấn đề quan trọng của đất nƣớc về kinh tế - xã hội Chƣơng 3: Một số kiến nghị nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động của Quốc hội trong việc quyết định các vấn đề quan trọng của đất nƣớc về kinh tế - xã hội. 13 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA VIỆC QUỐC HỘI QUYẾT ĐỊNH NHỮNG VẤN ĐỀ QUAN TRỌNG CỦA ĐẤT NƢỚC VỀ KINH TẾ - XÃ HỘI 1. Quyết định các vấn đề quan trọng của đất nƣớc về kinh tế - xã hội - Một chức năng quan trọng của Quốc hội 1. Khái quát về chức năng, nhiệm vụ của Quốc hội Nghiên cứu lịch sử Nghị viện, đặc biệt là trong giai đoạn hiện đại, chúng ta sẽ thấy một nghịch lý: ở nhiều nƣớc, Nghị viện chỉ có tính chất hình thức nhƣng không bị giải tán mà vẫn tồn tại bền vững.
Phải chăng bản thân Nghị viện nhƣ một tổ chức “vật chất” có thể không mạnh, nhƣng “phần hồn” hay “tinh thần” của chế định Nghị viện lại tạo ra vai trò không thể thay đƣợc, nhất là trong một nền dân chủ. Điều này cũng lý giải vì sao qua lịch sử phát triển thăng trầm của Nghị viện, thậm chí có lúc bị lấn át, triệt tiêu nhƣng cuối cùng, Nghị viện vẫn khẳng định một chỗ đứng vững chắc trong hệ thống quyền lực nhà nƣớc. Trong lịch sử nhà nƣớc và pháp luật thế giới, ngƣời ta vẫn cho rằng nƣớc Anh là quê hƣơng của Nghị viện, nơi mà từ thế kỷ 13 quyền lực của Nhà vua đã bị thu hẹp hơn do có các cuộc đại hội của những lãnh chúa phong kiến, giới tăng lữ cao cấp và đại diện của các thành phố và địa hạt (các đơn vị hành chính nông thôn lúc đó). Những cơ quan đại diện đẳng cấp nhƣ thế cũng xuất hiện sau đó ở Ba Lan, Hungary, Pháp và những nƣớc khác.
Dần dần những cơ quan đó phát triển thành Nghị viện nhƣ ngày nay. Hiện nay, trên thế giới có khoảng gần 250 nƣớc và vùng lãnh thổ thì có đến 178 nƣớc tổ chức nghị viện với nhiều tên gọi khác nhau. Bên cạnh những nghị viện lâu đời nhƣ Nghị viện Anh, Tây Ban Nha, lại có những Nghị viện ra đời muộn hơn nhƣ ở Pháp, Mỹ và trong những thập kỷ gần đây là Nghị viện ở các nƣớc đang phát 14 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail. Với lịch sử hình thành và phát triển khác nhau nhƣng nghị viện hầu hết các nƣớc trên thế giới đều mang những chức năng, thẩm quyền đặc trƣng của mình là lập pháp, giám sát và tài chính.
Trừ một số trƣờng hợp ngoại lệ, trong phần lớn hiến pháp các nƣớc trên thế giới đều có chƣơng riêng về những chức năng, thẩm quyền của Nghị viện, tuy nhiên căn cứ vào phạm vi thẩm quyền của Nghị viện, chúng ta có thể nêu ra ba nhóm nghị viện sau: Nhóm thứ nhất là những Nghị viện với thẩm quyền không hạn chế: Đó là Nghị viện ở những nƣớc tuyên bố về tính tối cao của Nghị viện và trao cho Nghị viện quyền đƣợc thông qua các luật lệ về tất cả các vấn đề. Ví dụ điển hình ở đây là Nghị viện Anh. Các nhà nghiên cứu ngƣời Anh cho rằng tính tối cao của Nghị viện Anh bao gồm: 1) Tính tối cao của luật (luật có hiệu lực pháp lý cao hơn mọi văn bản pháp qui của các cơ quan chính quyền khác, không một cơ quan nào ngoài Nghị viện có quyền ban hành luật; 2) Quyền chuẩn y ngân sách Nhà nƣớc và các loại thuế; 3) Trách nhiệm tập thể của Chính phủ trƣớc Nghị viện; 4) Quyền phê chuẩn sự bổ nhiệm các quan toà; 5) Không có những quyền lực cạnh tranh tƣơng tự. Hiến pháp Nhật Bản 1946 trong Điều 41 viết: “Nghị viện là cơ quan quyền lực nhà nƣớc tối cao và là cơ quan lập pháp nhà nƣớc duy nhất” đồng thời, không qui định cụ thể quyền hạn của cơ quan này - từ đó có thể thấy Nghị viện Nhật Bản không bị giới hạn về thẩm quyền.
Tƣơng tự nhƣ vậy, phần lớn Quốc hội các nƣớc xã hội chủ nghĩa cũng thuộc nhóm này, ví dụ nhƣ Hiến pháp Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Liên Bang Nga - Hiến pháp xã hội chủ nghĩa đầu tiên đã qui định: “Mọi vấn đề tầm cỡ quốc gia đều thuộc thẩm quyền của Đại hội Xô viết toàn Nga và Uỷ ban chấp hành Trung ƣơng các Xô Viết toàn Nga”; tiếp đó, Điều 50 viết: “Ngoài những vấn đề nêu trên, mọi vấn đề khác mà Đại hội Xô viết toàn Nga và Uỷ ban Chấp hành Trung ƣơng toàn Nga cho là thuộc phạm vi giải quyết của mình đều thuộc thẩm quyền của những cơ quan đó”. 15 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Nhóm thứ hai là những nghị viện bị giới hạn thẩm quyền tuyệt đối. Ví dụ điển hình ở đây là Cộng hoà Pháp. Hiến pháp 1958 đã qui định cụ thể trong các điều 34, 35, 49 về những vấn đề mà Nghị viện Pháp có thể ban hành luật và các quyết định Mọi vấn đề khác thuộc về thẩm quyền của Chính phủ.
Nếu Nghị viện vƣợt qua giới hạn cho phép và ban hành luật về vấn đề không đƣợc qui định trong Điều 34 của Hiến pháp, thì theo Điều 37 đạo luật đó có thể bị thay thế bằng một pháp lệnh (ordonance) của Chính phủ do Tổng thống ký. Thẩm quyền bị hạn chế tuyệt đối cũng thƣờng gặp ở nhiều nƣớc đang phát triển trƣớc đây là thuộc địa của Pháp nhƣ Congo, Madagascar, Senegal, Gabon. Nhóm thứ ba là những nghị viện có thẩm quyền bị giới hạn tương đối ở các nƣớc theo chế độ liên bang và những nhà nƣớc đơn nhất phi tập trung. Tại những nƣớc nhƣ vậy thẩm quyền của chính quyền trung ƣơng bị giới hạn bởi những quyền hạn của các chủ thể liên bang hoặc những lãnh thổ hành chính khác, vì vậy Nghị viện cũng chỉ có thể hoạt động trong khuôn khổ đó.
Hiến pháp Hoa Kỳ 1787 đã qui định “Những thẩm quyền không đƣợc Hiến pháp trao cho Liên bang và không bị cấm đối với tiểu bang sẽ thuộc về các tiểu bang hoặc nhân dân”. Nhƣ vậy Quốc hội Mỹ chỉ có thể thực hiện những thẩm quyền mà Hiến pháp trực tiếp trao cho hoặc Hiến pháp cấm các bang thực hiện. Cách phân loại trên đây cho thấy phạm vi thẩm quyền của Nghị viện ở mỗi nƣớc là khác nhau, phụ thuộc vào nhiều yếu tố nhƣ hình thức cấu trúc nhà nƣớc và tƣơng quan với các nhánh quyền lực khác. Ở Việt Nam, nhìn lại lịch sử hình thành và phát triển của bộ máy nhà nƣớc từ năm 1945 cho đến nay, có thể thấy rằng, Quốc hội luôn giữ một vị trí đặc biệt quan trọng, là cơ quan đại biểu cao nhất của nhân dân, đồng thời là cơ quan quyền lực nhà nƣớc cao nhất của nƣớc Cộng hòa xã hội chủ nghĩa 16 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Việt Nam.
Với vị trí ấy, có thể khẳng định rằng, chức năng, quyền hạn của Quốc hội là không giới hạn. Điều 83 Hiến pháp 1992 (đã đƣợc sửa đổi, bổ sung theo Nghị quyết số 51/2001/QH10 của Quốc hội khóa X, sau đây gọi tắt là Hiến pháp 1992) quy định về chức năng, nhiệm vụ của Quốc hội nhƣ sau: “Quốc hội là cơ quan duy nhất có quyền lập hiến và lập pháp. Quốc hội quyết định những chính sách cơ bản về đối nội và đối ngoại, nhiệm vụ kinh tế - xã hội, quốc phòng, an ninh của đất nước, những nguyên tắc chủ yếu về tổ chức và hoạt động của bộ máy nhà nước, về quan hệ xã hội và hoạt động của công dân. Quốc hội thực hiện quyền giám sát tối cao đối với toàn bộ hoạt động của Nhà nước”.
Nhƣ vậy, so với lịch sử lâu đời của Nghị viện thế giới, Quốc hội Việt Nam còn khá non trẻ, nhƣng ngay từ khi hình thành nó đã mang đầy đủ những chức năng cơ bản và đặc trƣng, cụ thể là: chức năng lập pháp, chức năng quyết định các vấn đề quan trọng của đất nƣớc và chức năng giám sát tối cao đối với toàn bộ hoạt động của nhà nƣớc. * Chức năng lập pháp Hiến pháp của hầu hết các nƣớc trên thế giới đều nhấn mạnh chức năng lập pháp của Nghị viện, coi đây là lĩnh vực hoạt động rộng nhất, cơ bản nhất của Nghị viện. Lập pháp là hoạt động thực hiện quyền lực Nhà nƣớc - quyền lập pháp. Với ý nghĩa đó, hoạt động lập pháp là hoạt động mang tính sáng tạo, là quá trình nhận thức các quan hệ xã hội, đặc biệt là vấn đề lợi ích, xác định tầm quan trọng của các quan hệ xã hội, từ đó xác định phạm vi và phƣơng pháp điều chỉnh đúng đắn đối với các quan hệ xã hội [15, tr.
Quyền lập pháp là biểu hiện sinh động nhất của quyền lực nhà nƣớc. Theo quy định của Hiến pháp, Quốc hội nƣớc ta là cơ quan quyền lực nhà nƣớc cao nhất. Điều đó không có nghĩa rằng Quốc hội sẽ làm mọi việc. Quốc hội chỉ nắm quyền 17 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com lập hiến và lập pháp, quyết định những vấn đề hệ trọng của đất nƣớc và thực hiện quyền giám sát tối cao.
Nhƣ vậy, từ các phân tích trên, lập pháp có thể được hiểu đó là quyền của Quốc hội được ghi nhận trong Hiến pháp, Quốc hội sử dụng quyền lập pháp quyết định những vấn đề quan trọng của đất nước thông qua hình thức là các đạo luật. Khái niệm trên xét về bản chất cũng có những điểm tƣơng đồng với khái niệm lập pháp đƣợc nêu ngắn gọn trong Từ điển Tiếng Việt, theo đó, lập pháp được hiểu là việc định ra pháp luật [16, tr. Trong những năm qua, Quốc hội nƣớc ta đã không ngừng chăm lo xây dựng và hoàn thiện pháp luật – công cụ pháp lý cực kỳ quan trọng để xây dựng và phát triển đất nƣớc trong từng thời kỳ. Ngay từ khóa Quốc hội đầu tiên, với vai trò là cơ quan duy nhất có quyền lập hiến và lập pháp, Quốc hội đã thay mặt nhân dân cả nƣớc thông qua Hiến pháp 1946 – Hiến pháp đầu tiên – Cơ sở pháp lý cao nhất để củng cố chính quyền cách mạng non trẻ, khẳng định tính pháp lý của một nhà nƣớc trƣớc thế giới, đồng thời là một dấu mốc thể hiện sự hoàn chỉnh về cơ bản bộ máy nhà nƣớc.