mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo, nội dung luận văn bao gồm 3 chương, 8 tiết. Chƣơng 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ QUẢN TRỊ TRUYỀN THÔNG TẠI CÁC DOANH NGHIỆP KINH DOANH RẠP CHIẾU PHIM 1. Quản trị Xét về lịch sử, quản trị xuất hiện từ rất lâu gắn liền với sự tồn tại và phát triển của con người. Ngay từ ngày đầu, con người sống thành bầy đàn đã biết nương tựa vào nhau đấu tranh chống chọi với thiên nhiên khắc nghiệt, với thú dữ để sinh tồn; mặt khác, do có sự khác nhau về tuổi tác, trí lực và thể lực mà vị trí của mỗi người trong cộng đồng cũng không giống nhau, có người làm được việc này mà không làm được việc khác nhưng tất cả đều muốn tồn tại và phát triển, đời sống của họ ngày càng được tốt hơn.
Vì vậy, trong xã hội đòi hỏi phải có sự phân công lao động và từ đó công việc quản trị và người quản trị xuất hiện nhằm điều phối công việc chung, làm cho cho các hoạt động của cộng đồng đem lại kết quả cao hơn, đáp ứng ngày càng nhiều hơn nhu cầu mọi mặt đời sống của mình. Dù hoạt động quản trị đã hiện hữu từ lâu trong xã hội nguyên thủy, tuy nhiên những lý thuyết về quản trị là sản phẩm của xã hội hiện đại. Thông qua việc nghiên cứu sự phát triển của những lý thuyết quản trị, các nhà quản trị hiểu được bản chất của quản trị, giúp họ tìm ra những phương pháp phù hợp để áp dụng cho tổ chức để đạt được những mục tiêu với hiệu quả tối ưu nhất. Điều này có ý nghĩa rất lớn đối với các nhà quản trị.
10 Giáo sư Andrew Dubrin thuộc Viện Công nghệ Rochester (Mỹ), một chuyên gia về tổ chức và quản trị đã đưa ra khái niệm: Quản trị là quá trình sử dụng các nguồn lực của tổ chức để đạt được các mục tiêu thông qua các chức năng hoạch định, tổ chức, lãnh đạo và kiểm soát. [3] Một định nghĩa khác từ Tiến sĩ Stephen P. Robbins - tác giả của nhiều cuốn giáo trình về quản trị và hành vi tổ chức: Quản trị là quá trình đạt được các mục tiêu của tổ chức một cách có hiệu quả và hiệu suất thông qua người khác trong một môi trường luôn biến động. [43] Cũng có quan điểm cho rằng: Quản trị là quá trình tác động của chủ thể quản trị lên đối tượng quản trị nhằm đạt được mục tiêu của tổ chức.
[40] Từ những quan điểm trên, luận văn cho rằng: Quản trị là quá trình chủ thể sử dụng các nguồn lực, công cụ để tác động lên đối tượng qua việc hoạch định chính sách/ kế hoạch, tổ chức, phối hợp, lãnh đạo và kiểm soát quá trình thực hiện nhằm đạt được mục tiêu của tổ chức một cách có hiệu quả. Quản trị có những yếu tố cơ bản sau: Chủ thể quản trị và đối tượng quản trị: là thực thể tạo ra các tác động tới quản trị, đối tượng quản trị. Đối tượng bị quản trị chịu sự tác động từ chủ thể quản trị. Tác động đó có thể diễn ra một hoặc nhiều lần.
Chủ thể quản trị có thể là một người cũng có thể là nhiều người và đối tượng quản trị có thể là một tổ chức, tập thể hay những máy móc, thiết bị. Mục tiêu của quản trị: là những căn cứ để chủ thể quản trị tạo ra các nhân tố tác động tới đối tượng quản trị. Nguồn lực quản trị: nguồn lực là điều kiện cần để giúp chủ thể quản trị hoạch định, khai thác trong quá trình quản trị. Quản trị có các chức năng chính là Chức năng hoạch định: - Xác định phương hướng, mục tiêu rõ ràng - Xây dựng chương trình hành động - Lên lịch trình hành động 11 - Tìm ra các biện pháp để kiểm soát - Phát triển, cải tiến hoạt động của tổ chức Chức năng hoạch định giúp cho việc phối hợp hoạt động giữa các nhân viên hiệu quả, giúp cho hoạt động tổ chức đạt kết quả tốt.
Chức năng tổ chức: Chức năng quản trị trong tổ chức đó là: - Thiết lập sơ đồ tổ chức - Mô tả nhiệm vụ của các bộ phận, phòng ban, cá nhân - Xây dựng tiêu chuẩn công việc cụ thể Công việc tổ chức cần có sự phân bổ, sắp xếp nguồn nhân lực hợp lý cũng như sắp xếp thiết bị – máy móc, kinh phí hoạt động… Chức năng lãnh đạo: Các công việc chức năng lãnh đạo thực hiện như: - Lãnh đạo và chỉ huy - Khích lệ nhân viên - Tạo dựng mối quan hệ giữa các nhân viên với nhau cũng như giữa nhân viên và nhà quản trị - Xây dựng mối quan hệ giữa nhà quản trị với những tổ chức khác. Nhà quản trị giao việc cho nhân viên và thực hiện công việc giám sát để nhân viên làm việc có hiệu quả nhằm đạt được các mục đích chung. Chức năng kiểm soát: Quản trị cũng chính là kiểm soát. Hoạt động của quản trị nhằm đảm bảo cho tổ chức vận hành theo đúng mục tiêu, phương hướng đã đề ra.
Khi gặp những sự ảnh hưởng tới hoạt động của tổ chức, nhà quản trị sẽ đưa ra các biện pháp cần thiết để điều chỉnh hoạt động của tổ chức. Kiểm soát gồm những công việc sau: - Lịch trình kiểm tra - Mục tiêu, đối tượng kiểm tra - Đánh giá kết quả kiểm tra 12 Các chức năng quản trị có sự liên kết với nhau, dù là doanh nghiệp lớn hay nhỏ, các chức năng quản trị cũng sẽ giúp doanh nghiệp quản trị được nguồn lực và duy trì sự phát triển bền vững trong tương lai. Các doanh nghiệp lớn có cấp quản trị rõ ràng, và phân cấp bậc, những nhà quản trị lớn chỉ tập trung thời gian vào quản lý những nhà quản trị cấp trung. Trong một doanh nghiệp, các cấp quản trị được phân công ở nhiều mức độ khác nhau, mỗi cấp độ sẽ có một vai trò và vị trí nhất định trong tổ chức, cấp độ quản trị càng cao thì chức năng hoạch định và tổ chức càng cao, và ngược lại, chức năng điều hành càng thấp khi cấp quản trị càng thấp.
Các chức năng của quản trị có mối quan hệ gắn kết với nhau, chức năng này bổ trợ cho chức năng kia, các chức năng quản trị phối hợp hài hòa sẽ giúp tổ chức phát triển và lớn mạnh hơn qua thời gian. Quản trị đảm bảo cho các bộ phận trong doanh nghiệp, tổ chức phối hợp với nhau một cách ăn ý để đạt hiệu quả cao, tăng năng suất, mang lại những lợi ích lớn hơn. Ngoài ra quản trị còn có chức năng tư duy. Hầu như tất cả các kế hoạch, chính sách được xây dựng đều dựa phải trên các tư duy của nhà quản trị.
Quản trị có vai trò rất quan trọng không những trong quản lý nhà nước mà còn trong các tổ chức và doanh nghiệp bởi lẽ trước hết sự tồn tại, phát triển của tổ được được quyết định bởi quản trị. Nếu như không có hoạt động của quản trị thì những nhân viên sẽ làm việc một cách lộn xộn, không có kế hoạch, không biết việc chính cần làm là gì từ đó làm việc không hiệu quả. Từ việc hoạch định công việc, xác định phương hướng, mọi người sẽ dễ dàng phối hợp với nhau để thực hiện mục tiêu chung. Nhờ quản trị, các tổ chức sẽ hoạt động hiệu quả hơn, từ đó có thể đạt được những mục tiêu đã đề ra một cách dễ dàng hơn.
Bên cạnh đó quản trị còn giúp điều khiển, kiểm soát trong quá trình thực hiện, tạo ra hệ thống, quy trình để phối hợp ăn ý với nhau, sử dụng tốt mọi nguồn lực để duy trì hoạt động và đạt được mục tiêu đề ra với chi phí thấp nhất. Nhà quản trị chính là cầu nối, là người giữ vai trò kết nối giữa các bộ phận, phòng ban cũng như các thành viên trong công ty thông qua 13 các hoạt động. Không chỉ kết nối trong nội bộ, nhà quản trị còn thể hiện vai trò kết nối thông qua việc liên lạc với các tổ chức, đối tác bên ngoai nhằm duy trì, phát triển những mối quan hệ hợp tác, để thúc đẩy sự phát triển của công ty, đem lại lợi ích lâu dài. Mọi quyết định của doanh nghiệp được đưa ra đều thông qua sự phê duyệt của nhà quản trị, đặc biệt là những vấn đề quan trọng.
Điều này sẽ tạo nên sự đồng nhất trong quá trình thực hiện cũng như sử dụng, phân bổ nguồn lực. Trong các tổ chức, doanh nghiệp tư nhân thì vai trò của quản trị được thể hiện rất rõ. Trên thực tế, nhiều doanh nghiệp đã thất bại trong kinh doanh đều do năng lực điều hành yếu kém, thiếu kinh nghiệm trong quản trị, điều hành. Truyền thông, hoạt động truyền thông Trong cuộc sống còn người có rất nhiều hoạt động trao đổi, tương tác thông tin thông qua nhiều phương thức, phương tiện khác nhau như điện thoại, thư, Facebook, TV, báo chí.
hay còn gọi là truyền thông. Nhờ có truyền thông đã giúp mọi người gắn kết với nhau hơn. Trong thời đại bùng nổ thông tin như hiện nay, truyền thông nắm một vai trò hết sức quan trọng, nó đã trở thành một khái niệm được sử dụng phổ biến trong các hoạt động truyền bá, quảng cáo. Vậy truyền thông là gì? Truyền thông có những đặc điểm như thế nào và tại sao doanh nghiệp cần thực hiện các kế hoạch truyền thông? Khi xã hội ngày càng phát triển, truyền thông cũng trở nên phổ biến và ngày càng phát triển.
Truyền thông có tác động tới tất cả mọi người trong xã hội. Trên thế giới có rất nhiều quan điểm, định nghĩa về truyền thông dựa trên những góc nhìn khác nhau. Có người cho rằng truyền thông là quá trình trao đổi tư duy, ý tưởng bằng ngôn ngữ. Cũng có người định nghĩa theo một cách khác truyền thông là một quá trình thông tin liên tục mà qua đó con người có thể hiểu lẫn nhau.
Quá trình này sẽ thay đổi, biến hóa liên tục để ứng phó với nhiều tinh huống khác nhau. Truyền thông còn được coi là sản phẩm của xã hội con người và được coi là yếu tố thúc đẩy sự phát triển của xã hội.