CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIEN VE QUAN TRI SAN XUẤT CHUONG TRÌNH TRUYEN HÌNH TRỰC TIẾP. CHƯƠNG 2: THUC TRẠNG HOAT DONG QUAN TRI SAN XUẤT CÁC CHUONG TRÌNH TRUYEN HÌNH TRUC TIẾP CUA VOVTV. CHUONG 3: GIẢI PHAP DOI MỚI QUAN TRI SAN XUẤT CAC CHUONG TRINH THTT CHO VOVTV 16 CHUONG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIEN VE QUAN TRI SAN XUẤT CHUONG TRINH TRUYEN HÌNH TRUC TIÉP.1 Một số khái niệm liên quan đến đề tài 1. Quản trị Quản trị (trong tiếng Anh có nghĩa la Administration), là một khái niệm rất rộng bao gồm nhiều lĩnh vực.
Ví dụ quản trị hành chính (trong các tổ chức xã hội), quản trị kinh doanh (trong các tô chức kinh tế). Trong lĩnh vực quản trị kinh doanh lại chia ra nhiều lĩnh vực: Quản trị tài chính, quản trị nhân sự, quản tri Marketing, quản tri sản xuất. Có khá nhiều khái niệm mà các tác giả, nhà nghiên cứu đưa ra đối với khái niệm “Quản trị”. Theo Từ điển tiếng Việt, “Quản là trông coi, điều khiển”, “Trị là đưa vào khuôn khổ”, “Quản trị có nghĩa là quản lí, điều hành công việc hàng ngày” [29, tr.
Tác giả Nguyễn Tan Phước trong cuốn Quản trị hoc — Những van dé cơ bản định nghĩa: “Quản trị là tiễn trình hoạch định, tổ chức, bồ trí nhân sự, lãnh đạo và kiểm soát những nỗ lực của con người, đồng thời vận dụng một cách có hiệu quả mọi tài nguyên (gồm con người, máy móc, thiết bị, nguyên liệu, tiền bạc, bí quyết, công nghệ.) để hoàn thành mục tiêu đã định.” Các tác giả của giáo trình Quản trị học (Trường Đại học Kinh tế Quốc dân Hà Nội) định nghĩa: “Quản tri tô chức là quá trình lập kế hoạch, tổ chức, lãnh đạo kiểm tra các nguồn lực và hoạt động của tô chức, nhằm đạt được mục đích của tổ chức với kết quả và hiệu quả cao trong điều kiện môi trường luôn biến động.” Quy trình quản trị bao gồm việc phát triển một loạt các kỹ năng: lập kế hoạch, giao tiếp, tổ chức và lãnh đạo. Người quan tri sẽ cần có kiến thức sâu rộng về các mục tiêu của tô chức và cách chỉ đạo các thành viên của tô chức đê 17 hoàn thành mục tiêu. Theo tác giả tổng hợp, có năm chức năng cơ bản của người quản lý: - Một là chức năng đặt mục tiêu: Đặt ra và đạt được các mục tiêu là cách chính mà người quản lý hoan thành va duy trì thành công. Họ cũng phải có khả năng truyền đạt chúng đến nhân viên hoặc nhân viên của họ một cách hấp dẫn.
- Hai là chức năng tô chức: Các nhà quản lý đánh giá loại công việc, phân chia thành các nhiệm vụ có thê đạt được và ủy thác hiệu quả cho nhân viên. Tổ chức bao gồm một loạt các mối quan hệ giữa các cá nhân nhân viên cũng như các bộ phận hoặc thực thé bên trong tổ chức. Người quan lý có trách nhiệm đảm bảo rằng các cá nhân và tô chức nay làm việc với nhau một cách hai hòa, bao gồm cả việc thúc đây nhân viên và các bộ phận tiếp tục làm việc. Một nhà quản lý giỏi có kỹ năng xây dựng mối quan hệ giữa các cá nhân giữa các thành viên trong nhóm của họ vả có thể khắc phục sự cố khi các thành viên bối rối khi gặp phải thách thức.
- Ba là chức năng tạo động lực cho nhân viên: Ngoài các nhiệm vụ tô chức và ủy quyền, động lực bao gồm việc có các kỹ năng dé xử lý các loại tính cách khác nhau trong một nhóm. Một nhà quản lý hiệu quả phải biết cách hình thành và dẫn dắt các nhóm thành công và biết cách tạo động lực cho các thành viên trong nhóm xung quanh một mục tiêu. - Bốn là chức năng phát triển hệ thống đo lường: người quản lý cần đặt ra các mục tiêu hoặc các chỉ số hiệu suất chính mà nhóm hướng tới và sau đó đưa ra các cách đề đo lường xem nhóm của họ có đang đi đúng hướng để đạt được các mục tiêu đó hay không. Bởi vì có thé là một thách thức dé đưa ra những cách có thể đo lường được đề hiểu về hiệu suất, các nhà quản lý thường phải sáng tạo và chu đáo.
Tuy nhiên, giống như các chức năng khác của quản lý, đo lường là rất quan trọng dé cải thiện hiệu quả hoạt động kinh doanh. 18 - Năm là chức năng phát triển con người: Ngoài việc dẫn dắt tô chức hướng tới một mục tiêu và đo lường sự tiễn bộ của họ trong suốt chặng đường, các nhà quản lý giỏi còn đầu tư vào sự phát triển của nhân viên. Ví dụ, các nhà quản lý có thé làm việc với nhóm của họ dé giúp họ đặt ra các mục tiêu dé tiến lên trong sự nghiệp của họ. Qua quá trình tìm hiểu một số định nghĩa, ta có thê hiểu, Quản lý chức năng là thành lập các mục tiêu, chính sách quan trọng của các tô chức.
Còn quan tri là hành động hoặc chức năng của việc đưa vào thực hành các chính sách, kế hoạch đã được quyết định thực hiện bởi người quản trị. Quản trị mang tính nội bộ ở một đơn vị cụ thé; là sự phối hợp và điều hành các công việc dé dat được một mục tiêu. Các hoạt động quan tri bao gồm việc thiết lập chiến lược của tô chức và điều phối các nỗ lực của nhân viên dé hoàn thành các mục tiêu này thông qua việc áp dụng các nguồn lực sẵn có. Quản trị còn là quá trình các nhà quản trị hoạch định, tô chức, lãnh đạo và kiểm tra.
Tổ chức sản xuất Theo Harold Koontz, Cyril Odonnell và Heinz Weihrich trong cuốn Management (sự quán lý, điều hành) năm 1984 thì công tác tổ chức là "việc nhóm gộp các hoạt động cân thiết đề đạt được các mục tiêu, là việc giao phó mỗi nhóm cho một người quản lý với quyền hạn can thiết để giám sát nó, và là việc tạo diéu kiện cho sự liên két ngang và doc trong cơ cầu của doanh nghiệp". Trần Văn Hùng, Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Cục Phát triển Doanh nghiệp cho rằng: “76 chức sản xuất là sự phối hợp, kết hợp chặt chẽ giữa sức lao động, tư liệu lao động và đối tượng lao động cho phù hợp với yêu cầu, nhiệm vụ sản xuất, quy mô sản xuất và công nghệ sản xuất đã xác định nhằm sản xuất ra sản phẩm có chất lượng đáp ứng nhu cau của thị trường”. TCSX là sự phối hợp, kết hợp chặt chẽ giữa sức lao động, tư liệu lao động và đôi tượng lao động cho phù hợp với yêu câu, nhiệm vụ, qui mô và công nghệ 19 sản xuất đã xác định nhằm tạo ra sản phẩm có chất lượng đáp ứng nhu cầu cho xã hội. Trong lĩnh vực báo chí có thể hiểu việc TCSX là tao ra, làm nên các sản phẩm truyền thông trên cơ sở các quy tắc nghề nghiệp và theo quy trình nhất định.
Về cơ bản TCSX có thể được hiểu là là việc phân chia các bước công việc trên cơ sở áp dụng công nghệ, các biện pháp tổ chức phân công lao động, các phương tiện và công cụ lao động thích hợp. Từ đó, tìm ra biện pháp phối hợp hai hòa giữa các bộ phận tham gia vào quá trình sản xuất nhăm mục dich đạt hiệu quả cao nhất. TCSX sẽ có vai trò quyết định đối với hiệu quả của quá trình sản xuất. Là hoạt động sử dụng tối ưu và hiệu quả các nguồn nhân lực, trang thiết bị chuyên ngành một cách có kế hoạch và hợp lý, phát huy mọi khả năng sáng tao của con người dé tao ra sản phâm có chất lượng.
Từ đó có thê thấy TCSX là khâu quan trọng trong quá trình hình thành tác phẩm báo chí vì nó phản ánh tính thống nhất, hiệu quả của cả một quy trình làm việc của tập thé (Đạo diễn, biên tập, phóng viên, kỹ thuật viên, dẫn chương trình và những vi trí quan trọng khác. Dé làm ra một sản phẩm truyền hình, người chịu trách nhiệm sản xuất chương trình phải xây dựng quy trình tổ chức, cách thức sản xuất, dựa trên nền tang tri thức chuyên ngành và những công cu sản xuất hiện có. Sau đó mới tập hợp một lực lượng lao động có những tiêu chuẩn năng lực nhất định, phù hợp dé cùng tham gia sản xuất chương trình. Chương trình truyền hình Sự xuất hiện của truyền hình được xem là một dấu mốc vô cùng quan trọng và mang tính đột phá trong cuộc cách mạng truyền thông của thế giới.
Cùng với việc kết hợp giữa hành động và âm thanh, truyền hình đem đến cho người xem cảm giác chân thực về một cuộc sống sinh động, thú vi đang hiện diện trước mắt khi họ ngồi trước máy thu hình. Cuộc sống đó đã được tường thuật, truyền tải trên nhiều bình điện khác nhau, làm giàu thêm về ý nghĩa trước khi đưa đến cho công chúng thông qua các chương trình truyền hình. 20 Theo tác giả Dương Xuân Sơn, “Zruyén hình không phải là một không gian thảo luận mà là một không gian dé thé hiện: nó là phương tiện truyén thông đại chúng thiết yêu dé pho biến những mô hình văn hoá và giải thích thé giới. Những mô hình văn hoá này hoà nhập vào trong mỗi từ, mỗi hình ảnh, mỗi âm thanh do truyền hình phát ra, như trong những ngôn ngữ thường ngày”.
Trong tập bai giảng Truyền hình của Khoa Báo chí, trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, tác gia Duong Xuân Sơn nêu “Tiruyên hình là một phương tiện thông tin đại chúng truyền đạt thông tin nhờ phương tiện kỹ thuật đến đối tượng tiếp nhận là người xem. Thông tin trong truyén hình gom hình ảnh và âm thanh” Chương trình truyền hình là nội dung thông tin được tổ chức 6n định theo chu kỳ thời gian. Chương trình truyền hình là khái niệm mang tính tương đối có thê hiểu trên hai phương diện: - Chương trình tong thé: là toàn bộ nội dung phát sóng của một dai truyền hình, một kênh truyền hình phát sóng trong một ngày, một tuần. - Chương trình bộ phận: là các chương trình riêng được sản xuất “tương đối” độc lập để đưa vào khung chương trình phát sóng chung của một đài truyền hình.
Vi dụ, “Chương trình Thời sự”, chương trình “Chào buổi sáng”, chương trình “Gõ cua ngày moi”. Truyén hình trực tiếp Tác giả E.Prôkhôrốp trong cuốn “Cơ sở lý luận của báo chí” đã viết “cũng như phát thanh, ở đài truyền hình cũng có thé tổ chức được những chương trình truyền hình nhanh chóng từ trường quay, cũng như từ hiện trường của các sự kiện.