CHƯƠNG 1 8 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN TRỊ RỦI RO TÍN DỤNG TRONG CÁC NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 1. RỦI RO TÍN DỤNG TẠI CÁC NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 1. Khái niệm rủi ro tín dụng tại ngân hàng thương mại Căn cứ theo Khoản 01 Điều 02 của Quy định về phân loại nợ, trích lập và sử dụng dự phòng để xử lý rủi ro, theo Quyết định số 493/2005/QĐ-NHNN ngày 22/04/2005 của Thống đốc NHNN thì: “Rủi ro tín dụng trong hoạt động NH của TCTD là khả năng xảy ra tổn thất trong hoạt động NH của TCTD, do KH không thực hiện hoặc không có khả năng thực hiện nghĩa vụ của mình theo cam kết. Như vậy, Rủi ro tín dụng là loại rủi ro phát sinh trong quá trình cấp tín dụng của ngân hàng, biểu hiện trên thực tế qua việc khách hàng không trả được nợ hoặc trả nợ không đúng hạn cho ngân hàng [9] RRTD gây ra tổn thất tài chính, làm giảm thu nhập, ảnh hưởng khả năng thanh toán của NH.
Đây là loại rủi ro lớn nhất, quan trọng nhất trong hoạt động NH, là rủi ro chủ yếu của rủi ro NH. Đặc điểm của rủi ro tín dụng Rủi ro mang tính gián tiếp Ngân hàng là một định chế tài chính trung gian, một tổ chức kinh doanh tiền tệ mà hoạt động chủ yếu là nhận tiền gửi của khách hàng với trách nhiệm hoàn trả và sử dụng tiền đó để cho vay. Trong quan hệ tín dụng, ngân hàng chuyển giao quyền sử dụng vốn cho khách hàng. Rủi ro tín dụng trong cho vay xảy ra khi khách hàng gặp tổn thất và thất bại trong quá trình sử dụng vốn.
Do đó, rủi ro trong hoạt động kinh doanh của khách hàng là nguyên nhân gián tiếp gây nên rủi ro tín dụng trong cho vay của ngân hàng. Rủi ro có tính chất đa dạng và phức tạp 9 Sự đa dạng, phức tạp thể hiện ở nguyên nhân, hình thức và hậu quả của rủi ro tín dụng trong hoạt động cho vay. Do đó, cần chú ý đến mọi dấu hiệu để phòng ngừa rủi ro nhanh chóng và kịp thời. Rủi ro mang tính tất yếu, luôn tồn tại và gắn liền với hoạt động tín dụng của ngân hàng thương mại.
Tình trạng thông tin bất cân xứng làm cho ngân hàng không thể nắm bắt các dấu hiệu rủi ro một cách toàn diện. Vì vậy, bất kỳ khoản vay nào cũng có những rủi ro tiềm ẩn. Do đó, ngân hàng cần phải cân nhắc giữa lợi nhuận và mức rủi ro có thể chấp nhận được. Phân loại rủi ro tín dụng a.
Phân loại theo tính chất của rủi ro tín dụng - Rủi ro khách quan: là rủi ro xảy ra do các nguyên nhân khách quan như thiên tai, dịch bệnh, hỏa hoạn, người vay bị chết, mất tích… dẫn đến thất thoát vốn vay mặc dù ngân hàng và người đi vay đã thực hiện đầy đủ các quy định về quản lý và sử dụng khoản vay cũng như các cam kết khác trong hợp đồng tín dụng. - Rủi ro chủ quan: là rủi ro xảy ra do lỗi của ngân hàng hoặc người đi vay có thể là vô tính hay cố ý gây ra dẫn đến thất thoát vốn vay. Phân loại theo nguồn gốc hình thành rủi ro Rủi ro tín dụng Rủi ro giao dịch Rủi danh mục (rủi ro liên quan đến một (rủi ro liên quan đến danh khoản vay) mục các khoản vay) Rủi ro Rủi ro Rủi ro Rủi ro Rủi ro Lựa chọn Đảm bảo Nghiệp vụ Nội tại Tập trung Hình 1.1: Phân loại rủi ro tín dụng NH 10 - Rủi ro giao dịch: Là rủi ro xảy ra do những hạn chế trong quá trình giao dịch, xét duyệt cho vay cũng như khi đánh giá khách hàng. Rủi ro giao dịch bao gồm: rủi ro lựa chọn, rủi ro bảo đảm và rủi ro nghiệp vụ.
+ Rủi ro lựa chọn: là rủi ro liên quan đến việc đánh giá và phân tích tín dụng để lựa chọn những dự án, phương án kinh doanh khả thi, có hiệu quả để ra quyết định cho vay. + Rủi ro bảo đảm: là rủi ro phát sinh từ các tiêu chuẩn bảo đảm như các điều khoản trong hợp đồng cho vay, loại tài sản đảm bảo, hình thức đảm bảo, mức cho vay trên giá trị tài sản đảm bảo. + Rủi ro nghiệp vụ: là rủi ro liên quan đến công tác quản lý khoản vay. - Rủi ro danh mục: là rủi ro phát sinh do những hạn chế trong quản lý danh mục cho vay của ngân hàng, bao gồm rủi ro nội tại và rủi ro tập trung.
+ Rủi ro nội tại: là rủi ro xuất phát từ những yếu tố, đặc điểm riêng biệt của mỗi chủ thể vay vốn hoặc từ ngành nghề, lĩnh vực kinh tế. + Rủi ro tập trung: là rủi ro xảy ra khi ngân hàng tập trung cho vay vốn quá nhiều vào một số ngân hàng, một số ngành nghề, lĩnh vực kinh tế hay giới hạn trong một vùng địa lý nào đó. Hiện nay, rủi ro này ngày càng trở nên phổ biến do các ngân hàng chưa có sự quan tâm phân tích, đánh giá danh mục khách hàng hiện có, dẫn đến vô tình phát sinh rủi ro tín dụng tập trung. Bên cạnh đó, do sự cạnh tranh ngày càng khốc liệt cũng như áp lực chỉ tiêu doanh số nên các ngân hàng chỉ mong sao cho vay được khách hàng nào là tốt khách hàng ấy mà không có sự quan tâm phân tích trong mối tương quan với dư nợ của ngành nghề, nhóm khách hàng hiện có.
Căn cứ vào phương diện quản lý và giám sát của ngân hàng - Rủi ro tín dụng nhận diện được: Là loại rủi ro mà ngân hàng có thể nhận diện được nguyên nhân gây ra rủi ro, ước tính mức độ ảnh hưởng, dự kiến thời điểm phát sinh và cách phòng ngừa, hạn chế. Những rủi ro này thường do yếu tố chủ quan từ phía khách hàng hoặc ngân hàng gây ra. 11 - Rủi ro tín dụng chưa nhận diện được: Là loại rủi ro mà ngân hàng không thể dự đoán trước được. Thường là những rủi ro bất khả kháng như thiên tai, hỏa hoạn, dịch bệnh… 1.
Tác động của rủi ro tín dụng. Đối với khách hàng Nếu rủi ro xảy ra, khách hàng có thể thiếu hụt vốn dẫn đến khó khăn trong sản xuất kinh doanh. Các khoản nợ của họ sẽ trở thành các khoản nợ xấu làm ảnh hưởng đến quan hệ của họ đối với ngân hàng. Khi đó để có nguồn vốn phục vụ kinh doanh, họ buộc phải quan hệ với các ngân hàng khác và phải chịu một khoảng thời gian tìm hiểu, gây dựng lòng tin, phí giao dịch…và làm trì hoãn cho quá trình sản xuất b.
Đối với ngân hàng Khi rủi ro tín dụng xảy ra, khách hàng không trả được nợ (nợ gốc và/hoặc lãi) dẫn đến tổn thất vốn cho vay, ngân hàng phải trích lập dự phòng để xử lý nợ xấu làm cho lợi nhuận kinh doanh sụt giảm, thậm chí thua lỗ. Điều này ảnh hưởng đến khả năng thanh toán các khoản tiền gửi đến hạn của dân chúng. Nếu tình trạng này tiếp tục xảy ra sẽ dẫn đến sự xuất hiện những tin đồn thất thiệt, khiến dân chúng hoài nghi, không yên tâm, lo sợ bị mất tiền, do đó sẽ gây ra hành động rút tiền hàng loạt, đẩy ngân hàng đến bờ vực phá sản. Đối với nền kinh tế Có thể nói hệ thống ngân hàng được coi như là huyết mạch của nền kinh tế, với chức năng dẫn vốn từ nơi thừa đến nơi thiếu, đảm bảo cho các hoạt động của nền kinh tế được liên tục.
Vì vậy, khi rủi ro tín dụng xảy ra, nợ xấu gia tăng, thì chức năng dẫn vốn của ngân hàng bị gián đoạn, các doanh nghiệp sẽ gặp nhiều khó khăn để duy trì hoạt động sản xuất kinh doanh do thiếu vốn mà sức khỏe của doanh nghiệp lại gắn liền với tình trạng nền kinh tế, do đó, nếu không có các biện pháp can thiệp kịp thời thì sẽ dẫn đến các nguy cơ như rối loạn lưu thông tiền tệ trong nước, giảm giá đồng bản tệ, đình trệ hoạt động sản xuất kinh doanh, khủng hoảng kinh tế… 12 Bên cạnh đó, do xu hướng toàn cầu hóa nền kinh tế nên sự tác động này không chỉ giới hạn trong phạm vi một nước mà còn có thể lan rộng ra toàn thế giới tùy thuộc quy mô và mức độ ảnh hưởng của nền kinh tế nước đó. QUẢN TRỊ RỦI RO TÍN DỤNG TRONG CÁC NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI. Khái niệm Theo Tony Van Gestel và Bart Baesens, quản trị rủi ro tín dụng là một quá trình trong đó bao gồm việc xác định rủi ro tiềm ẩn, đo lường các rủi ro đó, đưa ra các biện pháp xử lý phù hợp và áp dụng các mô hình rủi ro vào trong thực tiễn. (Credit risk management, Oxford) Quản trị rủi ro tín dụng là hoạt động trong đó những nghĩa vụ, biện pháp, phương pháp quản trị có quan hệ lẫn nhau được thực hiện nhằm đảm bảo RRTD trong NH có thể chấp nhận được (Sổ tay tín dụng MHB) Quản trị rủi ro tín dụng là quá trình tiếp cận rủi ro một cách khoa học, toàn diện và có hệ thống nhằm nhận dạng, đo lường, kiểm soát, phòng ngừa và giảm thiểu những tổn thất, mất mát, ảnh hưởng bất lợi của rủi ro tín dụng thông qua việc xây dựng chính sách tín dụng, thiết lập quy trình tín dụng, giám sát việc tuân thủ chính sách và quy chế cho vay, xử lý trục trặc và vi phạm về chính sách, quy trình và khoản cấp tín dụng cụ thể.
Như vậy QTRRTD là quá trình xây dựng và thực thi các chính sách và biện pháp quản lý tín dụng nhằm đạt mục tiêu an toàn, hiệu quả, phát triển bền vững. Mục tiêu của công tác quản lý rủi ro tín dụng Mục tiêu của quản lý rủi ro tín dụng trong cho vay là để tối đa hóa lợi nhuận trên cơ sở giữ mức độ rủi ro hoặc tổn thất tín dụng trong cho vay ở mức ngân hàng có thể chấp nhận được và trong phạm vi nguồn lực tài chính của ngân hàng. Hoạch định phương hướng ,kế hoạch phòng chống rủi ro. Dự đoán rủi ro có thể xảy ra đến đâu,trong điều kiện nào,nguyên nhân và hậu quả ra sao,…Đồng thời, tổ chức phòng chống rủi ro một cách khoa học nhằm chỉ ra những mục tiêu cụ thể cần đạt được, ngưỡng an toàn, mức độ sai sót có thể kiểm soát được.
13 Xây dựng các chương trình nghiệp vụ, cơ cấu kiểm soát phòng chống rủi ro phân quyền hạn và trách nhiệm cho từng thành viên, lựa chọn những công cụ kỹ thuật phòng chống rủi ro,xử lý rủi ro và giải quyết hậu quả do rủi ro gây ra một cách nghiêm túc.