CHƯƠNG 1 LÝ LUẬN TỔNG QUAN 1.1 Hoạt động của Ngân hàng thương mại trong nền kinh tế thị trường. Luật của Quốc Hội nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam số 20/2004/QH11 ngày 15 tháng 6 năm 2004 về sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật các Tổ chức tín dụng, tại điều 20 có nêu: “ Tổ chức tín dụng là doanh nghiệp được thành lập theo quy định của Luật này và các quy định khác của pháp luật để hoạt động ngân hàng. Ngân hàng là loại hình tổ chức tín dụng được thực hiện toàn bộ hoạt động ngân hàng và các hoạt động kinh doanh khác có liên quan., theo tính chất và mục tiêu hoạt động, các loại hình ngân hàng gồm ngân hàng thương mại, ngân hàng phát triển, ngân hàng đầu tư, ngân hàng chính sách, ngân hàng hợp tác và các loại hình ngân hàng khác Đối với NHTM, theo Nghị định 49/2000/NĐ-CP ban hành ngày 12/9/2000 về tổ chức và hoạt động của Ngân hàng định nghĩa như sau: “Ngân hàng thương mại là ngân hàng được thực hiện toàn bộ hoạt động ngân hàng và các hoạt động kinh doanh khác có liên quan vì mục tiêu lợi nhuận, góp phần thực hiện các mục tiêu kinh tế của nhà nước. Hoạt động của NHTM là hoạt động kinh doanh tiền tệ và dịch vụ ngân hàng với nội dung thường xuyên là nhận tiền gửi, sử dụng số tiền này để cấp tín dụng và cung ứng các dịch vụ thanh toán.
Mặc dù có nhiều cách thể hiện khác nhau, nhưng phân tích, khai thác nội dung của các định nghĩa đó, có thể hiểu các NHTM đều là những trung gian tài chính mà hoạt động chủ yếu và thường xuyên của chúng là: Nhận tiền ký thác - tiền gửi không kỳ hạn và có kỳ hạn - để làm phương tiện thanh toán và sử dụng vào các nghiệp vụ cho vay duới nhiều hình thức khác nhau và thực hiện các dịch vụ kinh doanh khác cho chính ngân hàng.2 Rủi ro trong hoạt động kinh doanh của ngân hàng thương mại: Từ việc nghiên cứu về đặc điểm hoạt động kinh doanh của các NHTM nói trên có thể nhận thấy rằng, rủi ro luôn gắn liền với từng nghiệp vụ trong hoạt động của NHTM. Đa số các nhà kinh tế thống nhất với nhau quan niệm về rủi ro trong 3 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com hoạt động kinh doanh của NHTM là “những biến cố không mong đợi xảy ra và gây tổn thất đối với ngân hàng”. Mức độ và tính chất rủi ro khác nhau sẽ gây ra những hậu quả không giống nhau song đều rất nguy hại bởi những tác động đến uy tín của ngân hàng và khả năng lan truyền. Việc tìm hiểu về các loại rủi ro, nguyên nhân và hậu quả của rủi ro trong hoạt động kinh doanh sẽ trả lời cho chúng ta câu hỏi tại sao phải quản trị và nâng cao năng lực quản trị rủi ro của NHTM.
Các loại rủi ro trong hoạt động kinh doanh của ngân hàng thương mại Rủi ro trong hoạt động kinh doanh của NHTM có thể phân chia thành nhiều loại tùy theo tiêu thức lựa chọn và mục đích nghiên cứu. Trong luận văn này, rủi ro sẽ được phân chia và trình bày thành bốn loại bao gồm: (1) Rủi ro tín dụng; (2) Rủi ro thanh khoản; (3) Rủi ro thị trường; và (4) Rủi ro tác nghiệp.1 Rủi ro tín dụng Là khả năng khách hàng (người đi vay) nhận khoản vốn vay nhưng không thể hoàn trả vốn và lãi hoặc hoàn trả không đầy đủ các khoản vay và lãi cho NH, gây tổn thất cho NH. Rủi ro tín dụng thường chiếm tỷ trọng lớn nhất và phổ biến nhất xuất phát từ đặc điểm của tín dụng ngân hàng như đã nêu trên đây và trên thực tế, hoạt động tín dụng thường chiếm tỷ trọng lớn nhất trong hoạt động kinh doanh của NHTM. Về cơ bản, rủi ro tín dụng xảy ra khi khách hàng vay vốn không có khả năng chi trả lãi, chi trả nợ hoặc cả hai.
Loại trừ một số ít khách hàng lừa đảo, đối với đa số khách hàng dù tình hình sản xuất kinh doanh tốt, có tình hình tài chính lành mạnh và thực thanh toán đầy đủ cho ngân hàng song vẫn có thể xảy ra những tình huống bất khả kháng dẫn đến không thể trả nợ đúng hạn cho ngân hàng. Vì vậy có thể cho rằng rủi ro tín dụng là khách quan, tồn tại song song với tín dụng ngân hàng và cả NHTM chỉ có thể hạn chế và buộc chấp nhận rủi ro tín dụng ở mức độ nhất định mà thôi.2 Rủi ro thanh khoản Là những tổn thất xảy ra đối với ngân hàng khi nhu cầu thanh khoản thực tế vượt mức dự kiến, hay nói cách khác, ngân hàng không đáp ứng nhu cầu thanh toán hay rút tiền của khách hàng. Khi khả năng thanh toán bị đe dọa, NHTM buộc phải tìm kiếm nguồn và thường là gia tăng các khoản đi vay “nóng” với chi phí 4 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com rất cao, đặc biệt ở những nơi mà thị trường tiền tệ chưa phát triển. Xét trên giác độ lý thuyết, rủi ro thanh khoản cũng là điều tự nhiên luôn tiềm ẩn trong hoạt động kinh doanh ngân hàng bởi lẽ độ thanh khoản của nguồn vốn (cầu thanh khoản) bao giờ cũng cao hơn các khoản sử dụng vốn (cung thanh khoản).
Tuy nhiên, trên thực tế rủi ro thanh khoản thường ít xảy ra hơn hoặc cũng có thể được giảm thiểu và “che lấp” bởi các hoạt động trên thị trường tiền tệ liên ngân hàng. Điều có thể thấy rất rõ là rủi ro thanh khoản và các loại rủi ro khác đều tác động đến hoạt động ngân hàng một cách ở mức độ khác nhau và dù có thể bị thua lỗ hay phá sản thì cũng “dần dần từng bước” do vậy các ngân hàng có thể có cơ hội để khắc phục và cải thiện tình hình. Song rủi ro thanh khoản nếu xảy ra thì lại là vấn đề rất nghiêm trọng, thậm chí là đặc biệt nghiệm trọng vì có thể dẫn đến sự sụp đổ của NHTM trong “chốc lát” khi khách hàng ồ át đến rút tiền.3 Rủi ro thị trường Là những tổn thất xảy ra đối với ngân hàng khi có sự biến động không lường trước của thị trường, bao gồm rủi ro lãi suất và rủi ro tỷ giá. Lãi suất và tỷ giá là những phạm trù khác nhau, và sự biến động của chúng cũng tác động không giống nhau đến hoạt động ngân hàng.
Trong khi lãi suất biến động thì làm thay đổi thu nhập và chi phí, thì tỷ giá biến động sẽ làm thay đổi giá trị của tài sản và nguồn vốn của ngân hàng. Song nếu xét ở giác độ nghiên cứu khác, hai phạm trù này lại có những điểm giống nhau là luôn thay đổi trên thị trường phụ thuộc vào các yếu tố cung – cầu về vốn và về ngoại tệ. Quan trọng hơn, việc xác định, đo lường mức độ và các biện pháp để hạn chế rủi ro của lãi suất và tỷ giá là hoàn toàn tương tự và đều phải thực hiện thông qua các nghiệp vụ phái sinh trên thị trường tiền tệ hay thị trường ngoại hối. Trong điều kiện nền kinh tế kế hoạch hoá tập trung, lãi suất và tỷ giá luôn được quản lý và duy trì cố định hay ít nhất là ổn định bởi Nhà nước, do vậy các NHTM không phải lo lắng đến rủi ro lãi suất và tỷ giá.
Trái lại, trong điều kiện nền kinh tế thị trường với sự vận động rất linh hoạt và phức tạp của các luồng vốn, lãi suất và tỷ giá luôn biến động và khó có thể dự báo. Lãi suất và tỷ giá biến động theo chiều hướng khác nhau có thể dẫn đến các kết cục khác nhau đối với các ngân hàng có trạng thái luồng tiền và trạng thái ngoại hối khác nhau. Một ngân hàng được “hưởng lợi” từ sự biến động tăng của lãi suất hay tỷ giá thì sẽ lại 5 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com bị “tổn thất” khi lãi suất hay tỷ giá giảm xuống. Xác suất thu được lợi ích và chịu tổn thất đối với mỗi ngân hàng là bằng nhau và bằng 50%, song xét về bản chất, lợi ích mà ngân hàng này có được lại chính là thiệt hại của ngân hàng khác.
Do vậy, các ngân hàng đều tập trung sự quan tâm vào khả năng gặp phải tổn thất có nghĩa là không chấp nhận sai lầm, cũng từ lẽ đó mà rủi ro lãi suất và rủi ro tỷ giá được coi là điều hoàn toàn tự nhiên đối với các ngân hàng có trạng thái luồng tiền và ngoại hối khác “mở” và các ngân hàng luôn phải hạn chế rủi ro loại này thông qua việc đo lường xác định và thực thi các nghiệp vụ phái sinh để phòng và chống.4 Rủi ro tác nghiệp Là những tổn thất xảy do những “trục trặc” trong quá trình vận hành các hoạt động kinh doanh của NHTM như: Sai lệch về thông tin và xử lý thông tin, bất hợp lý về quy trình và kỹ thuật nghiệp vụ và sự phối hợp giữa các bộ phận chức năng trong ngân hàng, v.v… Thực ra rủi ro tác nghiệp đã xuất hiện từ lâu và luôn tiềm ẩn trong hoạt động ngân hàng nhưng chỉ đến những năm gần đây mới được quan tâm nghiên cứu đẩy đủ hơn. Như đã đề cập trên đây, các hoạt động kinh doanh của NHTM là rất phức tạp và được thực hiện theo những quy trình và quy định rất chặt chẽ, song cũng chính vì vậy mà những sai xót rất dễ xảy ra. Bất kỳ một sự bất cẩn hay là non kém về mặt nghiệp vụ, thu thập xử lý thông tin thiếu chính xác và không kịp thời của các bộ phận chức năng trong hệ thống đều có thể ảnh đến những quyết định của giám đốc điều hành và toàn bộ các tác nghiệp tiếp theo. Rủi ro tác nghiệp của các NHTM có xu hướng ngày càng gia tăng, trước hết, do sự mở rộng quy mô, phạm vi và sự đa dạng hoá hoạt động kinh doanh; mỗi ngân hàng thậm chí có thể trở thành các tập đoàn tài chính và là những công ty đa quốc gia.
Thêm nữa, môi trường kinh doanh cũng ngày càng phức tạp hơn, áp lực công việc tăng do tốc độ và khối lượng giao dịch tăng, sự lệ thuộc vào kỹ thuật và công nghệ nhiều hơn, v.v… Do vậy, các ngân hàng tiên tiến và có quy mô lớn trên thế giới luôn nghiên cứu và tối ưu hoá quy trình tác nghiệp trên cơ sở mô hình tổ chức phù hợp nhất đối với mỗi loại hình ngân hàng. 6 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.