phần mở đầu và kết luận, luận văn gồm 3 chƣơng: Chƣơng 1: Cơ sở lý luận về quản trị quan hệ khách hàng của ngân hàng thƣơng mại. Chƣơng 2: Phân tích thực trạng quản trị quan hệ khách hàng tại Ngân hàng TMCP Đầu tƣ và phát triển Việt Nam – Chi nhánh ĐắkLắk. Chuơng 3: Hoàn thiện hệ thống quản trị quan hệ khách hàng tại Ngân hàng TMCP Đầu tƣ và phát triển Việt Nam – Chi nhánh ĐắkLắk 6. Tổng quan tài liệu nghiên cứu - Nguồn dữ liệu sơ cấp: Dữ liệu sơ cấp là dữ liệu mà nhà nghiên cứu thị trƣờng thu thập trực tiếp tại nguồn dữ liệu và xử lý nó để phục vụ cho việc nghiên cứu của mình.
Nguồn tài liệu sơ cấp đƣợc sử dụng bao gồm: các báo thƣờng niên, báo cáo tài chính, báo cáo của phòng dịch vụ khách hàng, phòng kế toán, khối phát triển của BIDV ĐắkLắk cũng nhƣ các số liệu từ điều tra từ khách hàng. - Nguồn tài liệu thứ cấp: Dữ liệu thứ cấp có nguồn gốc từ nhứng tài liệu sơ cấp đã đƣợc phân tích, giải thích, thảo luận là nguồn dữ liệu đƣợc thu thập và xử lý cho mục tiêu nào đó, đƣợc các nhà nghiên cứu thị trƣờng sử dụng lại cho việc nghiên cứu của mình. Dữ liệu thứ cấp của luận văn đƣợc lấy là các công trình nghiên cứu khoa học liên quan đến quản trị quan hệ khách hàng nhƣ các luận án Tiến sĩ, luận văn “Quản trị quan hệ khách hàng tại ngân hàng TMCP Kỹ Thƣơng chi nhánh TP Hồ Chí Minh của Trần Đình Phong”, bài báo, báo cáo khoa học… Luan van 4 CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ QUẢN TRỊ QUAN HỆ KHÁCH HÀNG CỦA NGÂN HÀNG THƢƠNG MẠI 1. TỔNG QUAN VỀ KHÁCH HÀNG CỦA NHTM 1.
Khái niệm khách hàng Khách hàng của một tổ chức là một tập hợp những cá nhân, nhóm ngƣời, doanh nghiệp. có nhu cầu sử dụng sản phẩm của công ty và mong muốn đƣợc thỏa mãn nhu cầu đó của mình. Phân loại khách hàng a. Khách hàng thuộc nghiệp vụ huy động vốn Bao gồm các khách hàng là doanh nghiệp hoạt động kinh doanh trong các lĩnh vực sản xuất, lƣu thông, dịch vụ; các cơ quan, đơn vị hành chính sự nghiệp, các tổ chức đoàn thể; các tầng lớp dân cƣ.
Khi gửi tiền vào ngân hàng với mục đích giao dịch thanh toán, để lấy lãi thông qua việc mở tài khoản thanh toán, tài khoản chuyên dùng, tài khoản có kỳ hạn,… b. Khách hàng thuộc nghiệp vụ cho vay Bao gồm tất cả những khách hàng có nhu cầu vay vốn của ngân hàng để phục vụ cho nhu cầu khác nhau. Nhìn chung, ngân hàng có rất nhiều đối tƣợng khách hàng khác nhau, phân loại và quản lý tốt mối quan hệ với khách hàng mục tiêu không phải đơn giản. Vì vậy cần có sự tham gia của toàn tổ chức, trực tiếp chỉ đạo từ ban lãnh đạo.
Khách hàng sử dụng dịch vụ thẻ và ngân hàng điện tử Trong thời đại công nghệ thông tin phát triển mạnh mẽ nhƣ hiện nay, khách hàng có thể ứng dụng những tiện ích mà công nghệ mang lại, đặc biệt tiện ích lĩnh vực ngân hàng nhƣ: Internet banking, SMS banking và Home banking, khách hàng ngồi tại nhà hay bất cứ nơi nào, họ có thể dễ dàng giao Luan van 5 dịch trực tuyến đƣợc với ngân hàng, ra lệnh cho ngân hàng thực hiện mọi sản phẩm dịch vụ ngân hàng theo yêu cầu. TỔNG QUAN QUẢN TRỊ QUAN HỆ KHÁCH HÀNG CỦA NHTM 1. Khái niệm về quản trị quan hệ khách hàng CRM là chữ viết tắt của Customer Relationship Management – Có nhiều khái niệm khác nhau về CRM tùy theo từng quan điểm, ngành nghề, từng doanh nghiệp khác nhau: Kristin Anderson và Carol Kerr cho rằng: “CRM là một phƣơng pháp toàn diện để tạo mới, duy trì và mở rộng mối quan hệ khách hàng”. Theo Kristin và Carol (2002) Quản trị quan hệ khách hàng là một chiến lƣợc và một quá trình toàn diện nhằm đạt đƣợc, duy trì và cộng tác với các khách hàng đƣợc lựa chọn nhằm tạo ra giá trị hiệu quả hơn cho công ty và khách hàng.
Nó bao gồm sự kết hợp giữa Marketing, bán hàng và dịch vụ khách hàng để đạt đƣợc những hiệu quả và hiệu suất cao hơn trong việc phân phối giá trị khách hàng. Theo Philip Kotler (2003) cho rằng “CRM sử dụng công nghệ thông tin để thu thập dữ liệu, sau đó đƣợc sử dụng để phát triển nhằm tạo ra sự giao tiếp có tính cá nhân hơn với khách hàng. Trong dài hạn dữ liệu cung cấp một cách thức phân tích và điều chỉnh liên tục nhằm để tăng giá trị cho khách hàng lâu dài với doanh nghiệp”.net CRM là triết lý kinh doanh lấy khách hàng làm trung tâm, trong đó lấy cơ chế hợp tác với khách hàng bao trùm toàn bộ quy trình hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp. CRM đƣợc xác định là cả một hệ thống những quy trình hỗ trợ mối quan hệ khách hàng trong suốt vòng đời kinh doanh, nhằm đạt đƣợc mục tiêu chính: thu hút những khách hàng mới và phát triển những khách hàng sẵn có.
Quá trình phục vụ khách Luan van 6 hàng phải đƣợc thấm nhuần trong toàn bộ doanh nghiệp: kinh doanh, tiếp thị, dịch vụ, hậu cần, sản phẩm, tài chính và các phòng ban khác. Quản lý mối quan hệ có nghĩa là thu hút những khách hàng mới, biến khách hàng trung lập thành khách hàng chung thuỷ, biến những khách hàng tận tuỵ thành các đối tác kinh doanh. Theo David Sims thì: “CRM không phải là công nghệ hay bất kỳ một công cụ hỗ trợ nào, mà nó là cả một chƣơng trình nhằm “trải thảm đỏ” trƣớc thềm để đón tiếp và phục vụ khách hàng”. Tƣ tƣởng của khái niệm này gần nhƣ đồng nhất với triết lý kinh doanh: “Khách hàng là Thƣợng đế”, David Sims không coi trọng một yếu tố đơn lẻ nào, Ông nhấn mạnh đến một giải pháp tổng hợp đƣợc lên kế hoạch, thiết kế thành một chƣơng trình hành động nhằm tạo ra con đƣờng ngắn nhất, thuận lợi nhất và êm ái nhất, mời gọi khách hàng đến để đƣợc biểu thị sự đón tiếp và phục vụ với tất cả những giá trị cung ứng tốt nhất.
Đến với doanh nghiệp, khách hàng thực sự cảm thấy yên tâm, các nhu cầu đƣợc thoả mãn một cách tốt nhất, hơn thế nữa khách hàng còn cảm nhận đƣợc vị thế của mình dƣờng nhƣ đƣợc nâng lên một tầm cao mới, thể hiện qua sự hãnh diện của khách hàng trƣớc những biểu thị về việc đón tiếp và phục vụ của doanh nghiệp. Đây chính là tiền đề tối quan trọng trong việc thiết lập mối quan hệ lâu bền với khách hàng nhằm đạt đƣợc các mục tiêu dài hạn của doanh nghiệp. Kristin Anderson và Carol Kerr cho rằng: “CRM là một phƣơng pháp toàn diện để tạo mới, duy trì và mở rộng mối quan hệ khách hàng”. Đây là một khái niệm khá bao quát về quản trị quan hệ khách hàng, nó yêu cầu doanh nghiệp phải tính đến tất cả các bộ phận chức năng của mình khi lên kế hoạch CRM, yêu cầu các nguồn lực từ con ngƣời, công nghệ,.
ở các bộ phận phải phối hợp với nhau để thực hiện CRM tốt nhất cho doanh ngiệp. Tuy nhiên, thực tế cho thấy không một doanh nghiệp nào có thể thực hiện tốt Luan van 7 CRM với tất cả khách hàng của mình do nguồn lực, khả năng của doanh nghiệp là có hạn, trong khi nhu cầu của khách hàng là vô cùng lớn. Một cơ sở hạ tầng cho phép phác họa và làm gia tăng giá trị khách hàng, và là phƣơng tiện đúng đắn tạo động lực cho khách hàng có giá trị duy trì lòng trung thành, hay nói đúng hơn là tiếp tục mua hàng. 25-27] Quản trị quan hệ khách hàng là một phƣơng pháp toàn diện để thiết lập, duy trì và mở rộng quan hệ khách hàng; Quản trị quan hệ khách hàng không những là một hệ thống, một công nghệ mà còn là một cách sống.
Mục tiêu và lợi ích của CRM a. Mục tiêu của CRM Mục tiêu chính của CRM là thu hút và giữ đƣợc khách hàng bằng cách tạo ra những giá trị tối ƣu phù hợp với những nhu cầu và mong muốn của KH. Các mục tiêu chủ yếu: Cung cấp cho khách hàng sản phẩm và dịch vụ tốt, giữ vững mối quan hệ với khách hàng, tạo lợi nhuận dài hạn cho doanh nghiệp. Để cạnh tranh và tồn tại trong nền kinh tế thị trƣờng buộc các doanh nghiệp phải kịp thời tiếp cận với CRM và vận dụng nó có hiệu quả trong tổ chức của mình.
CRM là một ý tƣởng đầy sức mạnh và khó thực hiện. Để một chƣơng trình CRM thành công phụ thuộc vào chiến lƣợc hơn là số tiền đầu tƣ vào công nghệ. Chiến lƣợc là việc phân bổ thích hợp nguồn lực hạn chế để tạo ra lợi thế cạnh tranh và hoạt động ƣu việt và công nghệ là phƣơng tiện trợ giúp đắc lực. Lợi ích của CRM Mr Swift (2001) đã nêu ra các lợi ích của CRM nhƣ sau: Giảm chi phí để tìm kiếm khách hàng: Chi phí để tìm kiếm khách hàng mới sẽ giảm, từ đó sẽ tiết kiệm đƣợc chi phí cho hoạt động marketing, gửi thƣ cho khách hàng, liên lạc, dịch vụ và những hoạt động khác.
Luan van 8 Không cần phải tìm kiếm nhiều khách hàng mà thay vào đó là giữ một nhóm khách hàng cũ của doanh nghiệp: Số lƣợng khách hàng lâu dài của doanh nghiệp sẽ tăng và vì vậy những nhu cầu cho việc tăng khách hàng mới sẽ giảm xuống. Giảm chi phí bán hàng: Những chi phí bán hàng sẽ giảm, các khoản nợ của khách hàng đƣợc trả lại nhiều hơn. Trong điều kiện đó, với những am hiểu tốt hơn của các kênh phân phối sẽ làm cho quan hệ trở nên tốt hơn, và các chi phí cho chiến dịch marketing sẽ giảm xuống. Lợi nhuận từ khách hàng cao hơn: Lợi nhuận từ khách hàng sẽ tăng cao hơn từ khách hàng, trong đó có sự gia tăng vì sự hài lòng của khách hàng cao hơn.
Tăng cƣờng lòng trung thành của khách hàng: Khách hàng sẽ sử dụng các sản phẩm và dịch vụ của công ty lâu dài và thƣờng xuyên hơn. Khách hàng cũng không đòi hỏi phải đƣa ra nhiều sáng kiến, với việc tăng cƣờng mối quan hệ và kết quả là gia tăng lòng trung thành của khách hàng hơn. Đánh giá lợi nhuận từ khách hàng: Công ty sẽ tìm ra đƣợc lợi nhuận từ khách hàng, xác định đƣợc những khách hàng không có lợi và những khách hàng có thể kiếm đƣợc lợi nhuận trong tƣơng lai.