Chương 1: Cơ sở lý luận về quản trị quan hệ khách hàng. Chương 2: Thực trạng quản trị quan hệ khách hàng tại Ngân hàng TMCP Đông Á chỉ nhánh Đà Nẵng Chương 3: Hoàn thiện quản trị quan hệ khách hàng tại Ngân hàng TMCP Đông Á chỉ nhánh Đà Nẵng 6. Téng quan tai u nghiên cứu Để nội dung luận văn được hoàn thiện và bám sát với đề tài, tác giả đã thu thập các tài liệu phục vụ cho công tác nghiên cứu của mình dựa trên các tài liệu lý thuyết về marketing và quản trị quan hệ khách hàng, bài nghiên cứu về quản trị quan hệ khách hàng của một số tác giả trước đây; cũng như những bài báo, website nói về quản trị quan hệ khách hàng. Sau đây là nội dung tham khảo một số tài liệu: ~ Phần lớn các nhà nghiên cứu cho rằng CRM vận hành cùng với hoạt động marketing và tiêu thụ và CRM cũng cần có các hoạt động dịch vụ và hỗ trợ để duy trì mối quan hệ tốt với khách hàng (LiBrizzi, 2001; Coner & Gungor, 2002; Anderson, 2002; Seddon, 2000; Bitner và các cộng sự, 2002; Chen & Popovich, 2003; Ang & Buttle, 2006; Helgesen, 2007).
Méi quan hé giữa CRM, công nghệ thông tin, hệ thống thông tin và khai thác dữ liệu, sự phát triển của phần mềm, công cụ và hệ thống internet, thương mại điện tử và quản trị điện tử là những chủ đề có nhiều các nhà khoa học tranh luận mạnh mẽ (Ferguson, 2000; Drew và các cộng sự, 2001; Corner & Hinton, 2002, Shebab và các cộng sự, 2004; Bih-Ru, 2007; Ngai và các cộng sự, 2012). - Ebook về Quản trị quan hệ khách hàng (Customer relationships management) cia Kristin Anderson and Carol Kerr đã nêu rõ về các khái niệm cơ bản của CRM cũng như tiến trình và cách thức thực hiện những tiến trình đó. CRM là một chiến lược quan trọng trong hoạt động quản lý DN trong kỷ nguyên thông tin và tri thức. Mục tiêu của CRM là tối đa hoá giá trị của khách hàng thông qua việc xây dựng, phát triển và duy trì một tổ chức.
luôn định hướng vào khách hàng và thoả mãn khách hàng. Hệ thống CRM đòi hỏi tổ chức hay DN phải nghiên cứu, tìm hiểu, thống kê đề xác định nhu cầu của khách hàng trong hiện tại và tương lai. CRM sử dụng nguồn lực của DN thông qua quy trình, thủ tục được quy định nhằm thu thập thông tin của khách hàng trong quá trình thống kê, phân tích, đánh giá và rút ra những nhận định cần thiết. Việc ứng dụng CRM không chỉ đáp ứng cho việc giải quyết việc quản trị quan hệ khách hàng của các DN đối với khách hàng nội địa mà CRM.
còn là một trong những công cụ quan trọng trong việc quản trị mối quan hệ với những khách hàng ngoài nước. Đây cũng là một trong những lợi ích quan trọng của CRM. Đồng thời, tác giả cũng đề cập đến việc ứng dụng Internet vào CRM để có thẻ thu thập, lưu trữ nhiều thông thông hơn từ nhiều khách hàng, là một trong những công cụ được nhiều người sử dụng hiện nay vì tình nhanh chóng và tiện lợi. Tuy nhiên, tính bảo mật và độ an toàn của Internet ngày nay là chưa cao.
Các thông tin lưu trữ về khách hàng có thể bị xóa hoặc. - Quan ly Marketing trong thế ki 21 đã mang đến cho người đọc cách thức tiếp cận mới về Marketing hiện đại. Tài liệu đã nhấn mạnh mục tiêu hoạt động chính của DN là thu hút và giữ được khách hàng, bằng cách đó sẽ tạo ra được lợi nhuận kinh tế, tăng trưởng cho DN; phân loại và tìm hiểu những nhu cầu, đặc điểm, hành vi của từng nhóm khách hàng để DN có thể đưa ra những. chính sách tác động đến từng nhóm khách hàng của mình.
- Bài báo về “CRM ~ Có thể bạn chưa biết”, nguồn Saga. Bài báo đã nói về CRM chính là một nghệ thuật - nghệ thuật trong việc quản trị quan hệ khách hàng. CRM được thể hiện qua hai khía cạnh: thứ nhất là nhận thức trong nội bộ DN, thứ hai là hành động bên ngoài. Ở khía cạnh thứ nhất, CRM.
được hiểu là một chiến lược tiếp cận nhằm đảm bao ring mdi DN phải ý thức được một cách sâu sắc tầm quan trọng của khách hàng. Phương châm “Có nhiều khách hàng càng tốt” cần phải được quán triệt hay thế cho “Bán nhiều hàng càng tốt". Chính vì vậy, mỗi nhân viên ở bất kỳ bộ phận nào của DN, trực tiếp (marketing, sales.) hay gián tiếp liên quan đến khách hàng (kế toán, vận hành.) đều phải luôn nhận thức rằng mình đang tham gia vào CRM. Khía cạnh thứ hai là những hoạt đông hướng ra bên ngoài, hướng đến khách hàng.
Việc duy trì mối quan hệ chặt chẽ, gắn bó với khách hàng qua tất cả các kênh giao dịch đều là điều hết sức quan trọng nhưng không hề dễ dàng. ~ Bài báo “Kiến trúc CRM thành công”, Nguyễn Văn Hiếu - Giám đốc. DN CP phần mềm BSC giúp người đọc hình dung tổng thể hơn về bức tranh CRM, từ vấn đề nhận thức, xây dựng kiến trúc, chiến lược, tầm nhìn, tới những phương pháp nhằm nâng cao hiệu quả khai thác hệ thống CRM. Theo tác giả, để đạt được giá trị lâu dài của giải pháp CRM, yêu cầu kiến trúc chiến lược phải gồm toàn bộ các hoạt động kinh doanh, dịch vụ liên quan đến khách hàng của DN và trên mức độ toàn DN.
Tại Việt Nam, chỉ một ít DN mới áp dụng CRM cỡ DN, còn lại hầu hết áp dụng mức phòng ban hoặc kết hợp CRM vào một hay nhiều dự án khác. Việc thực hiện CRM ở mức độ DN cũng không dễ, bởi nó yêu cầu tầm nhìn cỡ hội đồng quản trị và ban lãnh dao dé định hướng điều khiển "việc tập trung không ngừng vào khách hàng" trên toàn bộ DN. Qua khảo sát hơn 120 DN Việt Nam đã áp dụng giải pháp CRM trong năm 2007 -2011 từ DN BSC cho thấy, tỷ lệ các DN Việt Nam xây dựng. được "tầm nhìn CRM" đúng chỉ đạt khoảng 20%.
Còn phân lớn chỉ đặt CRM trong một vài phòng ban quan trọng liên quan đến khách hàng (như phòng kinh doanh, phòng dịch vụ khách hàng). Nguyên nhân do việc cô động, truyền bá, giám sát thực hiện tầm nhìn CRM đến từng phòng ban, nhân viên làm chưa tốt, dẫn tới nhận thức và sự cộng tác của từng nhân viê\ , lãnh đạo cấp. trung thấp, ảnh hưởng tới việc thực thi CRM. Để xây dựng được "tầm nhìn CRM" đúng các DN nên xác định vẻ vị trí, định hướng của DN; những thông tin về khách hàng; việc áp dụng CRM như thế nào cho hợp lý với tình hình của DN.
Bài báo “Đánh giá mô hình CRM”, PC Word Việt Nam cho rằng việc xây dựng, vận hành hệ thống CRM ở mỗi DN thường khác nhau. Do vậy, vấn đề đầu tiên trong triển khai hệ thống CRM là phải đánh giá được mô hình CRM nào thích hợp nhất với đơn vị mình. Vi mdi DN có tiêu chí hoạt động, mục tiêu kinh doanh và đặc thù khác nhau. Tuy nhiên, xét trên bình diện khảo sát chung, người ta có thể tham khảo mô hình mà số đông các DN lựa chọn, từ đó tham chiếu mức độ phù hợp đối với DN.
Bài báo đã chỉ ra được một tiến trình CRM cơ bản. Tiến trình này gồm 6 phần chủ yếu: xác định mục tiêu CRM, xây dựng cơ sở dữ liệu; phân tích, thông kê, lựa chọn khách hàng mục tiêu, tương tác khách hàng; đánh giá hiệu quả. Đây là tiến trình chung nhất về CRM, giúp cho các DN có thể thực hiện chỉ tiết từng bước nhằm đạt được hiệu quả cao trong việc áp dụng CRM vào DN mình. ~ Website http://www.com, trang web cung cấp những kiến thức cơ bản về CRM, cũng như thực trạng CRM tại Việt Nam.
Hiện nay, với việc ứng dụng CNTT, CRM đang mang lại hiệu quả và những lợi ích to lớn cho DN. Chính vì vậy, xây dựng và áp dụng CRM đang là một trong những xu hướng và nhu cầu cấp bách của các DN. CHUONG 1 CO SO LY LUAN VE QUAN TRI QUAN HE KHACH HANG 1. TONG QUAN VE QUAN TRI QUAN HE KHACH HAN 1.
Khái niệm quản trị quan hệ khách hàng a. Khái niệm khách hàng Khách hàng của một doanh nghiệp là tập hợp những cá nhân, nhóm người, tổ chức, công ty. có nhu cầu sử dụng sản phẩm của doanh nghiệp và mong muốn được thỏa mãn những nhu cầu đó. Nếu dựa vào hành vi mua của khách hàng để phân loại thì đa số khách hàng của các doanh nghiệp đều được phân thành khách hàng tổ chức và khách hàng cá nhân.
Khách hàng cá nhân: Quyết h mua hàng hóa, dịch vụ của khách hàng cá nhân thường đơn giản hơn so với khách hàng tổ chức, chịu tác động mạnh mẽ của những yếu tố văn hoá, xã hội, cá nhân và tâm lý. Khách hàng cá nhân thường chiếm số lượng rất lớn, nhưng mức độ trung thành thấp hơn so với khách hàng tô chức. Khách hàng tổ chức: Khách hàng tổ chức là nhóm khách hàng thường. có nhu cầu sử dụng số lượng sản phẩm lớn.
Nhóm khách hàng này thường có. những quyết định mua sắm có tính chất phức tạp hơn, mắt nhiều thời gian hơn so với khách hàng cá nhân. Những vụ mua sắm của khách hàng tổ chức thường liên quan đến số tiền khá lớn, có sự cân nhắc phức tạp về mặt kinh tế kỹ thuật và tiến trình mua cũng quy cách hơn, chịu ảnh hưởng qua lại của nhiều người trong tổ chức. Tuy nhiên, khách hàng tổ chức là nhóm khách hàng đem lại lợi nhuận lớn cho doanh nghiệp và mức độ trung thành với doanh nghiệp cao hơn khách hàng cá nhân.
Khái niệm quản trị quan hệ khách hàng 'Khi nhắc đến khái niệm này, nhà lý luận kinh tế nôi tiếng Peter Drucker đã từng nói rằng: “Mục đích của kinh doanh là tạo ra khách hàng”. Cùng với những công trình nồi tiếng khác của ông, câu nói này hàm ý rằng việc giữ gìn và phát triển quan hệ với khách hàng là một công việc rất quan trọng trong hoạt động kinh doanh của các doanh nghiệp. Đã từ lâu khái niệm CRM - Customer Relationship Management - với ý nghĩa là Quản trị quan hệ khách hàng ra đời như một giải pháp hữu hiệu giúp các nhà quản trị quản lý tốt các mối quan hệ với khách hàng. Thuật ngữ CRM xuắt hiện lần đầu tiên trên các phương tiện thông tin đại chúng tại Mỹ vào năm 1989 nhưng mãi đến năm 2000 thuật ngữ này mới được phô biến rộng rãi.
Gần đây, ầu hết các nhà quản lý thành đạt đều thừa nhận CRM chính là công cụ để chiến thắng trong nên kinh tế định hướng vào khách hàng.