phần mở đầu, kết luận danh mục các tài liệu tham khảo,phụ Tuc,ndi dung chính của đề tài được trình bày trong 3 chương: Chương l : Cơ sở lý luận về quản trị quan hệ khách hàng. Chương 2 :Thực trạng về quản trị quan hệ khách hàng tại ngân hàng thương mại cổ phần Đông Á Chỉ Nhánh Đaklak. Chương 3: Hoàn thiện công tác về quản trị quan hệ khách hàng tại ngân hàng thương mại cô phần Đông Á Đaklak. Tổng quan tài liệu nghiên cứu Khái quát về CRM xuất hiện vào đầu những năm 1970 khi các đơn vị kinh doanh thể hiện sự chuyển biến trong quan niệm từ định hướng sản phẩm sang định hướng khách hàng.
Sách quản trị marketing định hướng giá trị. nhóm soạn thảo: PGS. Lê Thể Giới, TS. Nguyễn Xuân Lãn, ThS Võ Quang Trí, ThS Đinh Thị Lệ Trâm, Th$ Phạm Ngọc Ái; NXB Tài Chính (201 1) trang 32 Đã nêu khái quát được nền tảng của quản trị quan hệ khách hàng nói lên khái niệm,và các vấn đề về quan hệ khách hàng.Từ đó làm nên tảng đề nghiên cứu cở sở lý luận về quản trị quan hệ khách hàng.
Quan điểm mới tập trung vào các mối quan hệ khách hàng dường như đạt được sức đây nhanh hơn trong những năm 90 với sự phát triển của công nghệ dữ liệu. Được trang bị bởi sức mạnh của máy tính cá nhân và các phần mềm dữ liệu , một công cụ mới, quản trị quan hệ khách hàng ra đời vào giữa thập niên 90, đã cung cấp cho các nhà làm marketing khả năng thu thập và tích lũy dữ liệu về hành vi mua của khách hàng trên một cơ sở dữ liệu cá nhân. CRM còn mang đến cho các nhà làm marketing khả năng phát triển các mối quan hệ học tập với khách hàng mà không cần hình thành bộ phận công. nghệ thông tin và những phương tiện để phân biệt giữa nhu cầu của khách hàng và giá trị của tổ chức.
CRM cũng cung cấp cho tổ chức một khả nang tương tác trực tiếp và đưa yêu cầu của khách hàng vào sản phẩm và dịch vụ của mình một cách cá nhân hóa. CRM đã được định nghĩa một cách hạn hẹp như một hoạt động quản trị dữ liệu khách hàng. Tuy nhiên,gần đây, CRM đã mang một ý nghĩa rộng hơn. Trong quá khứ, nhiều doanh nghiệp xem khách hàng chỉ là khách hàng.
Với thị trường tăng trưởng một cách nhanh chóng và nền kinh tế ngày càng mở rộng,các doanh nghiệp có thể thực hành cách tiếp cận “thùng không đáy” đối với marketing. Các doanh nghiệp sử dụng CRM đề duy trì khách hàng hiện tại và xây dựng một quan hệ có lợi và dài hạn với họ. Quan điểm mới ở đây là marketing là một khoa học và nghệ thuật tiềm kiếm, duy trì và làm tăng trưởng những khách hàng có lợi Tổng quan về quan hệ khách hàng gscom Nói về CRM là gì?mục đích của CRM, quy trình CRM từ đó nghiên cứu về các vấn đề của CRM làm nền tảng nghiên cứu cho luận văn. Thông qua hệ thống quan hệ khách hàng, các thông tin của khách hàng sẽ được cập nhật và được lưu trữ trong hệ thống quản lý cơ sở dữ liệu.
Nhờ một công cụ dò tìm dữ liệu đặc biệt, doanh nghiệp có thể phân tích, hình thành danh sách khách hàng tiềm năng lâu năm để để ra những chiến lược chăm sóc khách hàng hợp lý. -_ Luận văn quản trị quan hệ khách hàng tại trung tâm dịch vụ viễn thông vinaphone - Nguyễn Hồ Minh Đức Luận văn nói về các vấn đề chung của quản trị quan hệ khách hàng nói chung và vẫn đề của trung tâm vinaphone nói riêng,từ bài luận văn này tôi rút ra một số yếu tố căn bản cho bài của mình làm cơ sở lý luận đẻ nghiên cứu như khái niệm CRM, mục đích của CRM, vai trò CRM.lợi ích của CRM,cơ sở cho việc xây dựng CRM, chức năng và bộ phận của CRM. Kinh nghiệm CRM của một số doanh nghiệp Câu chuyện thành công với CRM của công ty 4&M: Phải có một người lãnh đạo, người hiểu được những vấn đề khó khăn và nhận thức được lợi ích của việc ứng dụng CRM, CRM không chỉ thuần túy là áp dụng các công nghệ mà là một chiến lược kinh doanh kết hợp chặt chẽ giữa marketing, dịch vụ bán hàng và công nghệ thông tin. Thực hiện đồng bộ từ quản trị cấp cao đến những người trực tiếp bán hàng.
Cần tránh sự hiểu lầm rằng việc triển khai một hệ thống CRM chỉ đơn giản là xây dựng hay mua một phần mềm và cài đặt nó mà việc lựa chọn công. nghệ và phát triển phần mềm CRM gắn liền với lý thuyết ằ khách hàng như : khách hàng được phân nhóm như thế nào, chu kỳ của mối quan hệ giữa khách hàng với doanh nghiệp ra sao hoặc dữ liệu khách hàng nào được thu thập lưu trữ. Công nghệ thông tin áp dụng trong CRM là một hệ thống tích hợp gồm công nghệ lưu trữ,khai thác và phân tích dữ liệu, tương tác đa phương tiện với khách hàng. Kinh nghiệm của bưu chính Australia : xây dựng chiến lược kinh doanh hướng đến khách hàng đa dạng hóa sản phẩm, dịch vụ.Có chiến lược sản phẩm dịch vụ cho nhóm khách hàng mang lại lợi cho doanh nghiệp.
Đưa công nghệ vào quá trình khai thác và đưa ra sản phẩm lai ghép. CHUONG 1 CO SO LY LUAN VE QUAN TRI QUAN HE KHACH HANG 1. CAC NOI DUNG CƠ BẢN VỀ KHÁCH HÀNG 1.Khái niệm Khách hàng của một tổ chức là tập hợp những cá nhânnhóm người,doanh nghiệp có nhu cầu sử dụng sản phẩm của công ty và mong muốn được thỏa mãn nhu cầu của mình. Trong nền kinh tế thị trường khách hàng có vị trí rất quan trọng , khách hàng là thượng đế.
Khách hàng là người cho ta tất cả.Tom Peters xem khách hàng là “ tài sản làm tăng thêm giá trị”. Theo Wal-Mart “khách hàng là người không phụ thuộc vào chúng ta, chúng ta ( những người bán hàng) phụ thuộc vào họ. Đối với ngân hàng thì khách hàng tham gia vào cả quá trình cung cấp. đầu vào như gửi tiết kiệm, mua kỳ phiếu,.
Đồng thời cũng là bên tiêu thụ đầu ra khi vây vốn từ ngân hàng. Mối quan hệ giữa ngân hàng với khách hàng là mối quan hệ hai chiều, tạo điều kiện cho nhau cùng tổn tại và phát triển. Sự thành công hay thất bại của khách hàng là nhân tố quyết định đến sự tồn tại phát triển của ngân hàng, ngược lại sự đôi mới của ngân hàng về chất lượng sản phẩm dịch vụ lại tạo điều kiện cho sự thành công trong kinh doanh của khách hàng. Phân loại Dựa vào hành vi mua của khách hàng để phân loại thì khách hàng được phân chia thành hai loại đó là khách hàng tô chức và khách hàng cá nhân.
Khách hàng tổ chức : khách hàng tỗ chức thường có những quyết định mua có tính phức tạp hơn. Những vụ mua sắm thường liên quan đến lượng. tiền khá lớn, cách cân nhắc thường phức tạp về mặt kinh tế kỹ thuật và ảnh hưởng qua lại giữa nhiều người thuộc nhiều cấp độ trong tổ chức, có thẻ mat nhiều thời gian đề đưa ra quyết định. Tiến trình mua của tô chức có khuynh hướng đúng quy cách hơn so với tiến trình mua của khách hàng cá nhân.
Khách hàng cá nhân : quyết định mua của khách hàng cá nhân thường ít phức tạp hơn khách hàng tô chức. việc mua sắm của người tiêu dùng chịu tác động mạnh mẽ của những yếu tố văn hóa , xã hội, cá nhân và tâm lý. Phân loại khách hàng theo mục đích kinh doanh của ngân hàng: - Khách hàng tiền gửi: là tổ chức hay cá nhân gửi tiền vào ngân hàng với mục đích thanh toán, gửi tiết kiệm, ký quỹ.Đây chính là nguồn vốn mà ngân hàng sử dụng để cho vay. - Khách hàng tiền vay: Là các tổ chức hay cá nhân có nhu cầu về vốn nhằm mục đích sản xuất kinh doanh.
~ Khách hàng liên quan đến các dịch vụ tài chính tiền tệ, tài sản của ngân hàng, bao gồm hai nhóm khách hàng là: + Thị trường tiêu dùng cá nhân:là những cá nhân đóng vai trò chủ chốt, quyết định trong gia đình. Vì vậy, họ có vai trò quan trọng trong việc mua dịch vụ của ngân hàng. Họ mua dịch vụ để phục vụ cho đời sống và sinh hoạt của chính họ + Thị trường tổ chức: là những khách hàng mua dịch vụ để thực hiện kinh doanh. Vì vậy họ quan tâm nhiều đến vấn đề lợi nhuận, chỉ phí, giá cả.hoặc khả năng thỏa mãn những nhu cầu cho công việc của họ.
Giá trị khách hàng, Theo chuyên gia cao cấp của tổ nghiên cứu động lực thúc đầy khách hàng, 80% lợi nhuận của doanh nghiệp chỉ do 20% số khách hàng mang lại Điều này cho thấy chỉ có một nhóm nhỏ khách hàng sẽ đem lại lợi nhuận thaath sự cho doanh nghiệp. Như vậy,mục tiêu của các doanh nghiệp là phải giữ nhóm khách hàng lợi nhuận trên càng lâu càng tốt. Trong quá trình thu thập và xử lý thông tin về khách hàng, doang nghiệp phải xác định được những khách hàng nào thường xuyên, trung thành, có giá trị để từ đó xây dựng các chương trình quan hệ phù hợp. Như vậy, giá trị khách hàng được hiểu như một hàm số của lợi nhuận mà khách hàng đó có thể đem lại cho doanh nghiệp tong tương lai.
Nói cách khác, giá trị khách hàng là tổng lợi nhuận trong tương lai mà khách hàng đem lại cho doanh nghiệp qua các lần giao dịch. CAC NOI DUNG CO BAN VE QUAN TRI QUAN HE KHACH HANG (CRM) 1.1 Khai nigm CRM CRM Ia viét tit ciia tir customer Relationship Management cé nghia 1a quản trị quan hệ khách hàng. “Quán trị quan hệ khách hàng là một chiến lược kinh doanh hướng vào việc tìm kiếm ,chọn lựa ,xây dựng và duy trì quan hệ với những khách hàng có giá trị với doanh nghiệp. "[4] Một cách tổng quát, CRM là hệ thống nhằm phát hiện các đối tượng tiềm năng, biến họ thành khách hàng, và sau đó giữ các khách hàng này lại với công ty.
Nói như vậy CRM sẽ là một tổng hợp của nhiều kỹ thuật từ marketing đến quản lý thông tin hai chiều với khách hàng, cũng như rất nhiều công cụ phân tích về hành vi của từng phân khúc thị trường đến hành vi mua sắm của từng khách hàng. Tiền đề của CRM là chương trình PIM ( Personal Information Manager- Quản lý thông tin cá nhân) được dùng để quản lý tên, địa chỉ, điện thoại, thời gian và những thông tin cá nhân khác. Sau đó, PIM phát triển thành CMS ( Contact Managenment System- Hệ thống quản lý giao tiếp) dựa vào đó những.