Chương 1: Một số vấn đề lý luận cơ bản về quản trị quan hệ KH của DN. Chương 2: Thực trạng quản trị quan hệ KH của Khách sạn Mường Thanh Grand Hà Nội. Chương 3: Một số giải pháp và kiến nghị hoàn thiện quản trị quan hệ KH của Khách sạn Khách sạn Mường Thanh Grand Hà Nội. 11 CHƢƠNG 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ QUẢN TRỊ QUAN HỆ KHÁCH HÀNG CỦA DOANH NGHIỆP 1.
Các khái niệm cơ bản 1. Khái niệm quản trị Quản trị là hoạt động nhằm đạt được mục tiêu một cách có hiệu quả bằng sự phối hợp các hoạt động của những người khác thông qua hoạch định, tổ chức, lãnh đạo và kiểm soát các nguồn lực của tổ chức. Khái niệm khách hàng và quan hệ khách hàng 1. Khái niệm khách hàng KH là những người sử dụng dịch vụ hàng hóa, dịch vụ của một cá nhân, một tổ chức, một DN.
Để được sở hữu sản phẩm, dịch vụ đó họ phải tiến hành những giao dịch, trao đổi nhằm thỏa mãn những nhu cầu, mong muốn của mình. Khái niệm quan hệ khách hàng Quan hệ KH mô tả mối quan hệ của DN với các KH của mình trong việc tạo lập và thực hiện các giao dịch. Do đó chúng ta có thể hiểu mối quan hệ với KH là một quá trình tương tác hai chiều giữa DN và KH trong đó hai bên cùng trao đổi các nguồn lực lẫn nhau để cùng đạt được mục tiêu của mình. Hay nói một cách khác quan hệ KH là quan hệ mà trong đó DN và KH ràng buộc lẫn nhau.
Sự biến đổi của một trong hai yếu tố hoặc DN hoặc KH sẽ ảnh hưởng đến yếu tố còn lại. Đây là mối quan hệ hai chiều, đôi bên cùng có lợi. Khái niệm quản trị quan hệ khách hàng – Quản trị quan hệ khách hàng CRM là chiến lược của các DN trong việc phát triển quan hệ gắn bó với KH qua nghiên cứu, tìm hiểu kỹ lưỡng nhu cầu và thói quen của họ. Thiết lập mối quan hệ tốt đẹp với KH có ý nghĩa đặc biệt quan trọng đối với sự thành công của mỗi DN nên đây là vấn đề hết sức được chú trọng.
CRM là toàn bộ các quy trình thu thập, tổng hợp và phân tích thông tin về KH, sản phẩm, hiệu quả của các công tác tiếp thị, khả năng thích nghi của DN đối với xu hướng của thị trường nhằm mục đích nâng cao hiệu quả hoạt động kinh doanh, mang lại lợi nhuận cao nhất cho DN. 12 Hiện nay, có rất nhiều cách hiểu và định nghĩa khác nhau về CRM: Định nghĩa CRM của Kristin Anderson và Carol Kerr - đồng tác giả của cuốn sách nổi tiếng "Customer Relationship Management" khá chính xác và ngắn gọn hơn cả. Trong cuốn sách này, CRM đã được khái quát như sau: "CRM bao gồm toàn bộ các phương pháp tạo lập, duy trì và mở rộng mối quan hệ với KH" [tr15, Kristin Anderson và Carol Kerr (2002), Customer Relationship Management, NXB McGraw-Hill, USA] Ngoài định nghĩa nói trên, trên thế giới hiện nay còn có một số quan điểm khác về CRM như sau: Quan điểm thứ nhất: coi CRM như chiến lược kinh doanh được thiết kế nhằm làm giảm chi phí và tăng lợi nhuận bằng cách củng cố lòng trung thành của KH. CRM thực sự sẽ mang lại lợi ích từ tất cả các nguồn thông tin trong và ngoài DN để đem đến cái nhìn toàn diện về từng KH tại từng thời điểm cụ thể.
Điều này cho phép các nhân viên khách sạn giới thiệu các dịch vụ, sản phẩm phục vụ nhu cầu của KH nhằm đạt hiệu quả cao trong kinh doanh. Quan điểm thứ hai: coi CRM như một giải pháp công nghệ trợ giúp cho quản lý những vấn đề liên quan đến KH. Theo quan điểm này, CRM được hiểu là một phần mềm ứng dụng trong công tác quản lý các mối quan hệ KH. Phần mềm sẽ thu thập, quản lý các thông tin của KH như tài khoản, nhu cầu, liên lạc,.
Nhờ đó, DN có thể phân tích, hình thành danh sách KH tiềm năng và lâu năm để đề ra những chiến lược sóc KH hợp lý. Ngoài ra, DN còn có thể xử lý các vấn đề vướng mắc của KH một cách nhanh chóng và hiệu quả. Quan điểm thứ ba: CRM được xác định là cả một hệ thống những quy định hỗ trợ mối quan hệ KH trong suốt vòng đời kinh doanh, nhằm đạt được mục tiêu chính: tạo ra dòng thu hút những KH mới và phát triển những KH sẵn có. CRM bao gồm 4 yếu tố: cấu trúc tổ chức lấy KH làm trung tâm, những quy trình kinh doanh, những quy luật về dịch vụ KH, và phầm mềm hỗ trợ.
Đứng trên khía cạnh là một chiến lược thì có thể đưa ra khái niệm về CRM như sau: 13 “CRM là một chiến lược toàn diện nhằm thiết lập, duy trì và mở rộng các quan hệ KH”. Đó là một chiến lược DN để lựa chọn những mối quan hệ KH có giá trị nhất. CRM yêu cầu một nguyên lý về DN KH là trung tâm và sự mở rộng để hỗ trợ các quá trình dịch vụ, giao dịch, tiếp thị một cách có hiệu quả. Các ứng dụng CRM có thể tác động tốt đến quản lí mối quan hệ KH với điều kiện DN phải có các chiến lược, sự lãnh đạo và sự mở rộng đúng đắn.
Các nội dung lý thuyết cơ bản về quản trị quan hệ khách hàng 1. Vai trò và đặc điểm của quản trị quan hệ khách hàng 1. Vai trò của quản trị quan hệ khách hàng Thực tiễn đã chứng minh, nhiều DN và tổ chức đã đạt hiệu quả kinh doanh cao và phát triển bền vững nhờ ứng dụng thành công CRM. Hơn nữa, môi trường kinh doanh ngày càng phức tạp và cạnh tranh ngày càng khốc liệt, các DN hiểu được tầm quan trọng của các mối quan hệ ngày càng tăng và họ cần quản trị hiệu quả các mối quan hệ này.
Vì vậy, nghiên cứu ứng dụng CRM trong quản trị DN ngày càng trở thành một nhu cầu cấp thiết của mọi DN và tổ chức. Mục đích căn bản của CRM là giúp các DN và tổ chức gia tăng được hiệu quả hoạt động quản trị hiệu quả các mối quan hệ. CRM giúp cho DN cung cấp dịch vụ tốt hơn cho KH nhằm đánh bại đối thủ cạnh tranh. CRM không chỉ cải thiện chất lượng dịch vụ cho KH, hệ thống CRM còn có khả năng giảm chi phí, giảm sự lãng phí, và làm giảm cả những than phiền của KH về sản phẩm dịch vụ của DN.
Hiệu quả của CRM cũng làm giảm căng thẳng cho nhân viên và nhờ đó cải thiện và tăng cường năng suất lao động. CRM cũng giúp DN có được kết quả nghiên cứu thị trường kịp thời, mở ra các kênh thông tin với KH và đảm bảo có được thông tin trực tiếp về thị trường sản phẩm, dịch vụ qua ý kiến phản hồi của KH. Hệ thống CRM hoạt động hiệu quả giúp DN giữ được KH trung thành, giảm việc mất KH và thu hút nhiều KH mới hơn từ việc tăng mức độ hài lòng của KH, giảm thiểu xung đột và tạo động lực cho nhân viên. Nhìn chung, nhờ ứng dụng CRM mà quá trình cung cấp dịch vụ và hoạt động kinh doanh của DN sẽ có hiệu quả cao hơn.
Cụ thể, CRM giúp DN: 14 - Giúp nhà quản trị kiểm soát được hiệu quả của các quyết định marketing. - Giúp bộ phận bán hàng có thể rút ngắn chu kỳ bán hàng và nâng cao các định mức quan trọng như doanh thu trung bình theo nhân viên, giá trị trung bình đơn hàng và doanh thu trung bình theo KH. - Giúp đội ngũ marketing có thể nâng cao tỷ lệ phản hồi của KH với các chiến dịch marketing, giảm chi phí tìm kiếm KH tiềm năng và biến họ thành KH trung thành. - Giúp bộ phận CSKH có thể nâng cao năng suất phục vụ KH của từng nhân viên, nâng cao hệ số thỏa mãn, đồng thời giảm thời gian phản hồi và thời gian giải quyết mỗi yêu cầu từ KH.
- Giảm chi phí hoạt động nhờ áp dụng những quy trình phục vụ KH mới. Đặc điểm của quản trị quan hệ khách hàng Dựa trên quan điểm của giáo trình Quản trị dịch vụ [tr242-243, PGS.Nguyễn Thị Nguyên Hồng (chủ biên) (2014), Giáo trình Quản trị dịch vụ, NXB Thống kê, Hà Nội], CRM của DN được khái quát trên ba đặc điểm chính đó là tính nghệ thuật, khoa học và công nghệ. a - CRM mang tính nghệ thuật: thể hiện cả ở nhận thức và hành động. Tính nghệ thuật được thể hiện qua tất cả các hoạt động quan hệ với KH bên ngoài qua việc chăm sóc KH trước, trong và sau bán.
Và chính điều này đòi hỏi khách sạn phải góp phần trang bị cho nhân viên, đặc biệt là đội ngũ nhân viên tiếp xúc trực tiếp với KH những kỹ năng, nghệ thuật trong cung cấp dịch vụ cho KH. Bên cạnh đó, hoạt động CRM thể hiện tính nghệ thuật qua tất cả các hoạt động quan hệ với KH bên ngoài, qua việc CSKH trước, trong và sau bán hàng. Quá trình chăm sóc KH với quan hệ tiếp xúc trực tiếp giữa DN và KH, đòi hỏi nhân viên CSKH phải được trang bị những kỹ năng, nghệ thuật trong cung cấp dịch vụ cho KH, trên cơ sở nắm chắc những thông tin về DN, sản phẩm/ dịch vụ KH. b - CRM mang tính khoa học: thể hiện trong quá trình tổ chức, thu thập thông tin KH, thiết lập chiến lược xây dựng, duy trì và phát triển quan hệ.
CRM có thể được coi như một quá trình bao gồm: - Nhận diện những yếu tố đầu vào của hệ thống CRM. Xây dựng cơ sở dữ liệu 15 KH và phân đoạn thị trường. - Nhận diện các yếu tố điều kiện để xây dựng hệ thống CRM. Xây dựng các chương trình hoạt động và các thành phần của hệ thống CRM.
- Nhận diện đặc điểm, nội dung các hoạt động xây dựng và quản lý CRM của DN. - Đánh giá, cải thiện và phát triển hệ thống CRM của DN theo thời gian nhằm thích nghi hoạt động kinh doanh của DN với các biến đổi của thị trường và môi trường kinh doanh bên ngoài. Tư tưởng khoa học về hệ thống CRM thể hiện ở chỗ bất kỳ DN nào cũng cần tập trung vào phát triển những năng lực cốt lõi, chiến lược tổng quát, quy trình và công nghệ thực hiện việc xây dựng và phát triển quan hệ dài hạn với các KH. Theo quan điểm này, tất cả những nỗ lực của DN trong ứng dụng CRM đều phải được nghiên cứu cẩn thận: - Nghiên cứu KH và các yếu tố ảnh hưởng đến mong muốn và kỳ vọng của KH, KH được nhận diện và đối xử như đối tác.