Chương 1: Cơ sở lý luận về Quản trị quan hệ khách hàng - Chương 2: Thực trạng hoạt động Quản trị quan hệ khách hàng tại Ngân hàng TMCP Sài Gòn Thương Tín - Chương 3: Giải pháp hoàn thiện công tác Quản trị quan hệ khách hàng tại Ngân hàng TMCP Sài Gòn Thương Tín 7. Téng quan tai lu nghiên cứu Trong môi trường cạnh tranh hiện nay, khách hàng là nhân tố quyết định sự tồn tại và phát triển của các doanh nghiệp. Chính vì vậy việc xây dựng một hệ thống quan hệ khách hàng nhằm tạo ra và duy trì các mối quan hệ bền vững, lâu dài với các nhóm khách hàng hiện hữu cũng như các nhóm khách hàng tiềm năng thông qua thỏa mãn tốt nhất các nhu cầu của khách hàng, từ đó luôn gia tăng giá trị cho khách hàng đồng thời gia tăng lợi nhuận cho doanh nghiệp. Chính vì tầm quan trọng như đã nêu trên nên đã có nhiều công trình nghiên cứu về vấn đề Quản trị quan hệ khách hàng (CRM).
Nhìn chung, các công trình nghiên cứu hầu như đều nhấn mạnh về tầm quan trọng của CRM và CRM có thể được xem là tập hợp các hoạt động kinh doanh để đặt một doanh nghiệp trong mối liên hệ ngày càng thân thiện với khách hàng nhằm hiểu biết và gia tăng giá trị của mỗi khách hàng. Tuy nhiên, tùy theo từng lĩnh vực hoạt động mà CRM được nhìn nhận ở một góc độ khác nhau như: CRM theo hướng công nghệ kỹ thuật Hệ thống CRM là gói phần mềm có thể hiệu chinh thông số để tích hợp và quản trị mọi khía cạnh tương tác với khách hàng trong tỗ chức và cải thiện khả năng của tổ chức trong việc xử lí dịch vụ khách hàng, sales, marketing, những giao dịch trực tuyến và đặt hàng (Green va Ridings, 2002). [17] Theo quan điểm này, CRM được định vị trong một hệ thống công nghệ thông tin và công nghệ thông tin đóng vai trò bỗ trợ cho doanh nghiệp trong việc hỗ trợ khách hàng. CRM là hoạt động lưu trữ và phân tích dữ liệu CRM 1a qué trinh lưu trữ và phân tích một lượng lớn dữ liệu từ bộ phận bán hàng, trung tâm dịch vụ khách hàng, việc mua thực tế, đi sâu và hành vi khách hàng.
CRM cũng cho phép doanh nghiệp đối xử khác nhau đối với những dạng khách hàng khác nhau (Hamilton, 2001). [10] Xem CRM là một chiến lược kinh doanh CRM bao gồm những tiến trình kinh doanh mà tổ chức thực hiện nhằm. nhận diện, lựa chọn, thâu tóm, nuôi dưỡng, duy trì và phục vụ khách hàng tốt hơn. Những tiến trình này bao hàm thỏa thuận end-to-end của tổ chức với khách hàng và triển vọng về mối quan hệ với khách hàng qua thời gian (Bodenberg, 2001).
[2] CRM là một chiến lược kinh doanh khả thi dựa trên kỹ thuật công nghệ thông tin, kết quả của nó là doanh thu, lợi nhuận và sự hài lòng của khách hàng đạt được nhờ tổ chức phân đoạn khách hàng, nuôi dưỡng sự hài lòng cho khách hàng và thực hiện quá trình tập trung vào khách hàng. Công nghệ CRM. đi sâu vào khách hàng, tăng cường tiếp cận khách hàng, tương tác và hội nhập. với khách hàng qua tất cả các kênh và các bộ phận chức năng của doanh nghiệp.
[12] Xem CRM như khả năng tác nghiệp, nhắn mạnh vào quan hệ sinh lợi CRM là khả năng tạo dựng mối quan hệ sinh lợi trong dài hạn với các. khách hàng tốt nhất thông qua việc khai thác một tập hợp các điểm tiếp xúc (Lefébure va Venturi, 2001). [2] Trên cơ sở đó, nhiều nhà nghiên cứu trong nước đã thực hiện nghiên cứu các vi dé CRM va đề ra các giải pháp đề hoàn thiện hơn quá trình Quản trị quan hệ khách hàng nhằm gia tăng hiệu quả, giá trị cho ngân hàng và khách hàng, chẳng hạn chư: Nâng cao hoạt động Quản trị quan hệ khách hàng. (CRM) tai Ngan hing TMCP Sài Gòn Thương Tín - Chỉ nhánh Thừa Thiên Huế của Nguyễn Thị Diệu Hằng, (201 1); Quản trị quan hệ khách hàng tại các.
ngân hàng thương mại của TS. Nhìn chung, các công trình nghiên cứu đều cho rằng: Quản trị quan hệ khách hàng (CRM) là một chiến lược kinh doanh nhằm chọn lọc và quản lý các mối quan hệ đáng. CRM đòi hỏi doanh nghiệp phải thực hiện một văn hóa, một triết lý kinh doanh lấy khách hàng làm trung tâm để hỗ trợ có hiệu quả cho các quá trình Marketing, bán hàng và cung cấp dịch vụ. Những ứng dụng CRM có thể đảm bảo việc quản lý quan hệ khách hàng hiệu quả, miễn là doanh nghiệp có.
sự lãnh đạo sáng suót, có chiến lược đúng đắn và văn hóa công ty phù hợp. Với định hướng “lấy khách hàng làm trung tâm”, Sacombank đã thực hiện công tác quản trị quan hệ khách hàng theo tiến trình từ khâu lưu trữ thông tin, phân tích — đánh giá — xác định khách hàng mục tiêu, tương tác và cá biệt hóa khách hàng. Tuy nhiên, Sacombank chỉ mới chú trọng vào hệ khách hàng hiện hữu trên cơ sở lịch sử giao dịch và lợi nhuận đóng góp Ngoài ra, công tác quản trị quan hệ khách hàng tại Sacombank còn một số hạn chế khác như: chưa thu thập, lưu trữ dữ liệu đầy đủ, hoạt động kiểm tra, đánh giá kết quả đạt được từ việc triển khai chưa được quan tâm và việc ứng dung công nghệ/phần mềm CRM chưa được thực hiện,. Xuất phát từ thực tế nêu trên, tác giả lựa chọn đề tài nghiên cứu là Quản trị quan hệ khách hàng tại Ngân hàng TMCP Sài Gòn Thương Tín nhằm có cái nhìn tổng quan hơn về công tác Quản trị quan hệ khách hàng và qua đó đề ra các giải pháp phù hợp đề hoàn thiện công tác này.
CHUONG 1 CO SO LY LUAN VE QUAN TRI QUAN HE KHACH HANG 1. KHACH HANG VA QUAN TRI QUAN HE KHACH HANG 1. Khái niệm về khách hàng và phân loại khách hàng a. Khái niệm khách hàng Khách hàng là khái niệm dùng để chỉ những cá nhân, nhóm người,.
có sự quan tâm, theo dõi một loại hàng hóa hoặc dịch vụ nào đó mà sự quan tâm này có thể dẫn đến hành động mua/sử dụng. Đối với Ngân hàng thì khách hàng vừa tham gia vào quá trình cung cấp đầu vào như gửi tiết kiệm, mua kỳ phiếu,. đồng thời cũng là bên tiêu thụ đầu ra khi sử dụng dịch vụ, vay vốn từ Ngân hàng. Do đó, việc xác định rõ khách hàng là ai có ý nghĩa hết sức quan trọng đối với hoạt động kinh doanh của Ngân hàng.
Ngân hàng và khách hàng có mối quan hệ tác động qua lại lẫn nhau, tạo điều kiện cho nhau cùng tồn tại và phát triển. Sự thành công của khách hàng là nhân tố quyết định đến sự phát triển của Ngân hàng, ngược lại sự cải tiến chất lượng dịch vụ đáp ứng và thỏa mãn tốt nhu cầu của khách hàng có thể tạo điều kiện cho sự thành công trong kinh doanh của khách hàng b. Phân loại khách hàng Có thể phân loại khách hàng theo: ~_ Hành vi mua của khách hàng. © Khách hàng tổ chức: Là các đơn vị hay tập thể và thường có những quyết định mua có tính chất phức tạp, tốn nhiều thời gian.
Tuy nhiên, những, thương vụ mua sắm lại thường có giá trị lớn, các cân nhắc phức tạp về mặt kinh tế, kỹ thuật và các ảnh hưởng qua lại giữa nhiều người thuộc nhiều cấp độ trong tô chức. 10 « Khách hàng cá nhân: Quyết định mua của khách hàng cá nhân thường ít phức tạp hơn khách hàng tổ chức. Việc mua sắm của người tiêu dùng chịu tác động mạnh mẽ của những yếu tố văn hóa, xã hội, cá nhân và tâm lý. ~_ Hoạt động kinh doanh của Ngân hàng: «_ Khách hàng thuộc nghiệp vụ huy động vốn: là nhóm khách hàng có quan hệ gửi tiền vào Ngân hàng để hưởng thu nhập theo mức lãi suất.
e_ Khách hàng thuộc nghiệp vụ sử dụng vốn: là nhóm khách hàng có nhu cầu sử dụng một khoản tín dụng của Ngân hàng nhằm tạo ra lợi nhuận cho chính mình và cho cả nền kinh tế «_ Khách hàng thuộc các nghiệp vụ trung gian: là nhóm khách hàng có quan hệ với Ngân hàng nhằm mục đích sử dụng các dịch vụ trung gian như phương tiện thanh toán, thanh toán, chuyển khoản trong/ngoài nước, mua bán ngoại tệ, chỉ lương, 1. Khái niệm, phân loại, bản chất Quản trị quan hệ khách hàng a. Khái niệm CRM Hiện tại có nhiều định nghĩa khác nhau về CRM tùy theo từng lĩnh vực hoạt động như: CRM là hệ thống công nghệ kỹ thuật, CRM là hoạt động lưu trữ và phân tích dữ liệu, CRM là một hoạt động quản trị tập trung vào Các. mối quan hệ chứ không phải Các giao dịch, CRM là một chiến lược kinh doanh, CRM như khả năng tác nghỉ: , nhắn mạnh vào quan hệ sinh lợi.
Tuy nhiên, trong phạm vi của cuộc nghiên cứu này, quan điểm về CRM được xác định như sau: “Quản trị quan hệ khách hàng CRM là một chiến lược kinh doanh nhằm chọn lọc và quản lý các môi quan hệ đáng giá nhất. CRM đòi hỏi doanh nghiệp phải thực hiện một văn hóa, một triết lý kinh doanh lấy khách hàng làm trung tâm để hỗ trợ có hiệu quả cho các quá trình Marketing, bán hàng và cung cấp dịch vụ. Những ứng dụng CRM có thể đảm bảo việc quản lý quan hệ khách hàng hiệu quả, miễn là doanh nghiệp có sự lãnh đạo sáng. suốt, có chiến lược đúng đắn và văn hóa công ty phù hợp.” HH Việc xây dựng, phát triển hệ thống CRM hiện nay đều dựa trên triết lý về ba lĩnh vực này: - Marketing: Trong CRM, chiến lược Marketing trực tiếp với khách hàng được sử dụng như một đặc trưng nồi bat.
Dé là chuỗi các hoạt động kinh doanh được cá nhân hóa tác động đến khách hàng - Bán hàng: Một chính sách phân phối hợp lý sẽ giúp cho hoạt động kinh doanh an toàn hơn, giảm sự cạnh tranh và làm cho quá trình lưu thông. hàng hóa nhanh và hiệu quả. Ngoài các kênh giao dịch trực tiếp và gián tiếp truyền thống, các hệ thống CRM hiện đại còn cho phép khả năng bán hàng tự động. - Dịch vụ: là cách thức, phương thức thể hiện sự quan tâm của doanh nghiệp tới khách hàng.
Yếu tố thành công cơ bản của dịch vụ khách hàng là sự thỏa mãn một cách nhanh chóng các nhu cầu của khách hàng cũng như việc tháo gỡ các khó khăn, vướng mắc của khách hàng. Phân loại CRM CRM hoạt động: Là hoạt động cốt lõi của CRM, hỗ trợ trực tiếp cho các bộ phận marketing, bán hàng và bộ phận dịch vụ khách hàng.