CHƯƠNG I: TỔNG QUAN VỀ ĐỀ TÀI 1. GIỚI THIỆU Cùng với xu thế toàn cầu hóa, sự mở rộng hợp tác giao lưu quốc tế ngày càng tăng, quan hệ hợp tác kinh doanh không chỉ dừng lại trong phạm vi một huyện, một tỉnh, một nước mà còn mở rộng ra toàn thế giới. Một công ty có thể có nhiểu chi nhánh, có các đối tác kinh doanh ở nhiều quốc gia và giữa họ luôn có nhu cầu trao đổi thông tin với nhau cho nên doanh nghiệp ứng dụng CNTT ngày càng rộng rãi vào quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh của mình nên đòi hỏi một hạ tầng CNTT vững mạnh, ổn định để có thể triển khai dịch vụ, ứng dụng phục vụ hoạt động kinh doanh và lưu trữ thông tin, dữ liệu quan trọng khác của doanh nghiệp. Vì vậy việc xây dựng và triển khai các dịch vụ mạng là rất quan trọng.
Để lưu trữ, truy xuất và đảm bảo bí mật các thông tin trao đổi, nhằm tránh gây lãng phí tài nguyên. Vì những lý do trên, nhóm đã thực hiện đề tài “Quản trị các dịch vụ mạng doanh nghiệp sử dụng giải pháp mã nguồn mở” để cho thấy được mục tiêu, ý nghĩa và ứng dụng thực tế của các dịch vụ mạng này đáp ứng được nhu cầu mà doanh nghiệp đưa ra. Nhóm dựa trên những kiến thức được học khi còn trên ghế nhà trường kết hợp với sự hướng dẫn và giúp đỡ của thầy Nguyễn Đăng Quang. Đồng thời nhóm chúng em thực hiện đề tài này nhằm mục đích tìm hiểu rõ hơn về kiến thức đã có và mới trong ngành Mạng máy tính, có thêm những hiểu biết về hệ điều hành mã nguồn mở và ứng dụng mã nguồn mở vào trong thực tiễn, để từ đó phục vụ cho quá trình học cũng như có những lợi ích cho công việc sau khi tốt nghiệp ra trường.
MỤC TIÊU Triển khai các ứng dụng mạng cơ bản cho doanh nghiệp, đồng thời quản trị các dịch vụ mạng của doanh nghiệp bằng giải pháp mã nguồn mở, đảm bảo các dịch vụ mạng được xuyên suốt. Cùng với sự phát triển phần mềm Open Source ngày càng mạnh mẽ, với ưu điểm là miễn phí, bảo mật, linh hoạt…. Việc kiểm tra của các cơ quan chức năng trong việc sử dụng phần mềm bản quyền của doanh nghiệp ở Việt Nam trong thời gian tới ngày càng chặt chẽ hơn. Để đáp ứng cho doanh nghiệp có thể ứng dụng triển khai hệ thống mạng hoàn chỉnh mà vẫn đảm bảo được việc không vi phạm bản quyền lại tiết kiệm thì việc sử dụng Open Source là hợp lý nhất.
Đề tài này được đưa ra nhằm thiết lập và quản trị các dịch vụ mạng cho doanh nghiệp với những mục tiêu sau: 1 do an Tìm hiểu và nghiên cứu về các dịch vụ mạng sẽ triển khai cho doanh nghiệp. Thiết kế hệ thống mạng ổn định, đảm bảo hiệu quả làm việc của hệ thống luôn xuyên suốt. Cài đặt và cấu hình các dịch vụ mạng cho hệ thống mạng đã thiết kế trên mã nguồn mở. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU Nghiên cứu lý thuyết các dịch vụ mạng trong hệ điều hành linux, tìm hiểu nguyên lý hoạt động của từng dịch vụ qua các tài liệu và các bài báo cáo liên quan về quản trị các dịch vụ mạng cho doanh nghiệp trên Internet.
Tìm hiểu chức năng của từng dịch vụ để lựa chọn những dịch vụ cần thiết, hiệu quả để áp dụng cho hệ thống mạng doanh nghiệp. Triển khai các máy ảo bằng phần mềm hỗ trợ VMWare, xây dựng hệ thống mạng cho doanh nghiệp mô tả một hệ thống mạng trong thực tế và triển khai các dịch vụ mạng trên đó, để kiểm chứng hiệu quả hoạt động của hệ thống. PHẠM VI ỨNG DỤNG Đề tài này được nhóm chúng em ứng dụng trên một hệ thống mạng của một doanh nghiệp vừa và nhỏ được thiết kế ảo trên phần mềm hỗ trợ VMWare và cài đặt trên nền tảng Linux. Đó là một hệ thống mạng đơn giản không quá phức tạp, nhằm cho ta thấy rõ được các chức năng chính của các dịch vụ mạng trong hệ thống đó.
Phạm vi ứng dụng của đề tài có thể là hệ thống mạng của một doanh nghiệp có dưới 100 máy tính. 2 do an CHƯƠNG 2: TỔNG QUAN VỀ CÁC DỊCH VỤ TRÊN LINUX 2. Giới thiệu Mỗi máy tính trong mạng muốn giao tiếp với nhau cần phải biết rõ địa chỉ IP của nhau. Nếu số lượng máy tính nhiều thì việc nhớ những địa chỉ IP này rất khó khăn.
Mỗi máy tính ngoài địa chỉ IP ra còn có một tên máy còn gọi là Computer Name. Đối với con người việc nhớ tên máy dù sao cũng dễ dàng hơn vì chúng có tính trực quan và gợi nhớ hơn địa chỉ IP. Vì thế, người ta nghĩ ra cách làm sao ánh xạ địa chỉ IP thành tên máy tính. Dịch vụ DNS hoạt động theo mô hình Client-Server: Phần Server gọi là máy chủ phục vụ tên hay còn gọi là Name server, còn phần Client là chương trình yêu cầu phân giải tên hay còn gọi là Resolver.
Name server chứa các thông tin CSDL của DNS, còn Resolver đơn giản chỉ là các hàm thư viện dùng để tạo các truy vấn (query) và gửi chúng qua đến Name server. Hiệu suất sử dụng dịch vụ được tăng cường thông qua cơ chế nhân bản (replication) và lưu tạm (caching). Một hostname trong domain là sự kết hợp giữa những từ phân cách nhau bởi dấu chấm. Ví dụ hostname serverlinux.com trong đó serverlinux là tên máy và com là tên vùng.
Domain name phân bổ theo cơ chế phân cấp tương tự như sự phân cấp của hệ thống tập tin Unix/Linux.1: Cơ chế phân cấp 3 do an Cơ sở dữ liệu (CSDL) của DNS là một cây đảo ngược. Mỗi nút trên cây cũng lại là gốc của một cây con. Mỗi cây con là một phân vùng con trong toàn bộ CSDL DNS gọi là một miền (domain). Mỗi domain có thể phân chia thành các phân vùng con nhỏ hơn gọi là các miền con (subdomain).
Mỗi domain có một tên (domain name). Tên domain chỉ ra vị trí của nó trong CSDL DNS. Trong DNS tên miền là chuỗi tuần tự các tên nhãn tại nút đó đi ngược lên nút gốc của cây và phân cách nhau bởi dấu chấm. Tên nhãn bên phải trong mỗi domain name được gọi là top-level domain.
Trong ví dụ trước server linux.com, vậy com là top-level domain. Bảng sau đây liệt kê top-level domain. Tên miền Mô tả .com Các tổ chức, công ty thương mại .org Các tổ chức phi lợi nhuận .net Các trung tâm hỗ trợ về mạng .edu Các tổ chức giáo dục .gov Các tổ chức thuộc chính phủ .mil Các tổ chức quân sự .int Các tổ chức được thành lập bởi các hiệp ước quốc tế Bảng 2.1: Bảng tên miền Bên cạnh đó, mỗi quốc gia cũng có một top-level domain. Ví dụ top-level domain của Việt Nam là.vn, Mỹ là.us, Nhật Bản là.
Mỗi quốc gia khác nhau có cơ chế tổ chức phân cấp domain khác nhau.2: Tổ chức domain của Việt Nam 4 do an 2. Cơ chế phân giải tên 2. Phân giải tên thành IP Root Name Server: Là máy chủ quản lý các name server ở mức top-level domain. Khi có truy vấn về một tên miền nào đó thì root name server phải cung cấp tên và địa chỉ IP của name server quản lý top-level domain (Thực tế là hầu hết các root server cũng chính là máy chủ quản lý top-level domain) và đến lượt các name server của top-level domain cung cấp danh sách các name server có quyền trên các second-level domain mà tên miền này thuộc vào.
Cứ như thế đến khi nào tìm được máy quản lý tên miền cần truy vấn. Nếu mọi root name server trên mạng Internet không liên lạc được thì mọi yêu cầu phân giải đều không thực hiện được. Mô hình sau đây mô tả quá trình phân giải www.com trên mạng Internet.3: Cơ chế phân giải IP Client sẽ gửi yêu cầu cần phân giải địa chỉ IP của máy tính có tên www.com đến name server cục bộ. Khi nhận yêu cầu từ resolver, Name server cục bộ sẽ phân tích tên này và xét xem tên miền này có do mình quản lý hay không.
Nếu như tên miền do server cục bộ quản lý, nó sẽ trả lời địa chỉ IP của tên máy đó ngay cho resolver. Ngược lại, server cục bộ sẽ truy vấn đến một root name server gần nhất mà nó biết được. Root name server sẽ trả lời địa chỉ IP của name server quản lý miền .com, máy chủ name server cục bộ lại hỏi tiếp name server quản lý miền .com và được tham chiếu đến máy chủ quản lý miền. 5 do an Name server cục bộ truy vấn máy chủ quản lý miền .com và nhận được câu trả lời www.com tương ứng IP cụ thể.
Phân giải IP thành tên Ánh xạ địa chỉ IP thành tên máy tính được dùng để diễn dịch các tập tin log cho dễ đọc hơn. Nó còn dùng trong một số trường hợp chứng thực trên hệ thống UNIX (kiểm tra các tập tin.rhost hay host. Trong không gian tên miền đã nói ở trên dữ liệu bao gồm cả địa chỉ IP được lập chỉ mục theo tên miền. Do đó với một tên miền đã cho việc tìm ra địa chỉ IP khá dễ dàng.
Để có thể phân giải tên máy tính của một địa chỉ IP, trong không gian tên miền người ta bổ sung thêm một nhánh tên miền mà được lập chỉ mục theo địa chỉ IP. Phần không gian này có tên miền là in-addr. Mỗi nút trong miền in-addr.arpa có một tên nhãn là chỉ số thập phân của địa chỉ IP. Ví dụ miền in-addr.arpa có thể có 256 subdomain, tương ứng với 256 giá trị từ 0 đến 255 của byte đầu tiên trong địa chỉ IP.
Trong mỗi subdomain lại có 256 subdomain con nữa ứng với byte thứ hai. Cứ như thế và đến byte thứ tư có các bản ghi cho biết tên miền đầy đủ của các máy tính hoặc các mạng có địa chỉ IP tương ứng.4: Cơ chế phân giải IP thành tên Lưu ý khi đọc tên miền địa chỉ IP sẽ xuất hiện theo thứ tự ngược. Ví dụ nếu địa chỉ IP của máy winnie.152, khi ánh xạ vào miền in- addr.arpa sẽ là 152. Các loại Record SOA (Start of Authority) Trong mỗi tập tin CSDL phải có một và chỉ một record SOA (start of authority).
Record SOA chỉ ra rằng máy chủ name server là nơi cung cấp thông tin tin cậy từ dữ liệu có trong zone. - Cú pháp của record SOA: - Ví dụ: Cách khai báo ZONE record SOA NS (Name Server) Record tiếp theo cần có trong zone là NS (name server) record. Mỗi name server cho zone sẽ có một NS record.