chương 1 cơ sở lý luận, tác giả sử dụng nguồn số liệu thu thập được trong các sách, tài liệu của nước ngoài (đều được liệt kê trong danh mục tài liệu tham khảo). Trong số này có các số liệu sơ cấp, nhưng cũng có số liệu là thứ cấp. Điều này được tác giả chú thích cụ thể khi trích dẫn. Đối với các số liệu phản ánh tình hình chung của ngành ngân hàng và của hệ thống ngân hàng TMCP trong chương 2, tác giả lấy trên báo cáo của ngân hàng Nhà nước Việt Nam đăng trên trang Web http://www.vn; số liệu báo cáo hàng năm của Tổng cục thống kê trên trang Web http://www.vn; báo cáo của ngân hàng Nhà nước chi nhánh thành phố Hồ Chí Minh (từ tìm hiểu của cá nhân tác giả, thông qua phòng kế hoạch tổng hợp của ngân hàng Nhà nước, chi nhánh thành phố HCM); Riêng đối với các số liệu phân tích chi tiết về danh mục cho vay, tác giả tự tổng hợp từ báo cáo thường niên của các ngân hàng TMCP công bố trên Website của từng ngân hàng được chọn lấy số liệu.
Ngoài ra cũng có một ít số liệu, tác giả thu thập trong kế hoạch, báo cáo nội bộ của ngân hàng Techcombank, ngân hàng SCB hoặc trong sổ tay tín dụng của ngân hàng ACB. Tất cả các số liệu nói trên đều là nguồn số liệu sơ cấp. Bên cạnh nguồn thông tin sơ cấp được thu thập trực tiếp, tác giả cũng sử dụng thêm các số liệu từ nguồn thứ cấp như trong báo cáo của CIC, trong z xxiv các bài phỏng vấn các quan chức cấp cao, nhà quản trị ngân hàng Việt Nam, trong các bài viết của các nhà nghiên cứu đã được thông báo trên các phương tiện thông tin đại chúng như trong tạp chí, kỷ yếu hội thảo, trên các diễn đàn hội nghị … Tất cả các nguồn này đều được liệt kê trong danh mục tài liệu tham khảo của luận án. Cơ sở lý luận và giả thuyết nghiên cứu Cơ sở lý luận của luận án dựa trên nền tảng lý thuyết về quản trị danh mục và quản trị danh mục cho vay tại các nước phát triển là Mỹ và Anh quốc, ngoài ra còn có Đức và Úc, trong giai đoạn từ những năm 90 của thế kỷ 20 cho đến nay.
Những lý thuyết này chủ yếu thể hiện trong hai cuốn sách Credit Portfolio Management của tác giả Charles W. Smithson (2002) và cuốn Credit Risk Measurement của tác giả Anthony Saunders & Linda Allen (2002), được phát triển, mở rộng dựa trên Lý thuyết quản trị danh mục hiện đại của nhà kinh tế học Harry Markowitz. Ngoài ra, khi đề xuất các giải pháp, tác giả tuân thủ theo những quy định trong Hiệp ước Basel 1 và 2 và Các nguyên tắc quản trị rủi ro tín dụng do Ủy ban Basel về giám sát ngân hàng (Basel Committee on Banking Supervision) ban hành vào tháng 9/2000, xem đó như là khung pháp lý cho các đề xuất của luận án. Về giả thuyết nghiên cứu, để tìm hiểu thực trạng quản trị danh mục cho vay của các ngân hàng TMCP Việt Nam, trên cơ sở đó có các giải pháp thích hợp, luận án dựa trên giả thuyết tổng quát: hầu hết các ngân hàng TMCP Việt Nam hiện nay chưa thực sự quan tâm đến quản trị danh mục cho vay, chưa áp dụng cách thức và nội dung quản trị danh mục cho vay phù hợp với xu hướng của nền kinh tế hiện đại.
Các giả thuyết cụ thể : Chưa chủ động xây dựng danh mục cho vay với cơ cấu các loại vay dự kiến hàng năm. Tại một số ít các ngân hàng TMCP lớn mới chỉ đưa ra định hướng cho hoạt động cho vay, vì vậy trong quá trình cho vay, cơ cấu danh mục thường bị thả nổi, có xu hướng chạy theo thị trường, bị dẫn dắt bởi thị z xxv trường. Tình trạng này đã dẫn đến những hậu quả xấu, ảnh hưởng đến kết quả kinh doanh của ngân hàng trong dài hạn. Trong tổ chức thực hiện danh mục các ngân hàng chưa xây dựng được bộ máy cũng như quy trình thích hợp, hiệu quả.
Chưa có một cách tính đúng/chính xác tổn thất danh mục cho vay phù hợp thông lệ quốc tế và gắn với thực tế rủi ro thực tế tại mỗi ngân hàng. Chưa có những biện pháp/ cách thức điều chỉnh danh mục cho vay mang tính linh hoạt, phù hợp với điều kiện thay đổi của thị trường, tuân thủ quy định của luật pháp và đảm bảo đạt mục tiêu kinh doanh của ngân hàng. Xuất phát từ các giả thuyết nghiên cứu như trên, luận án sử dụng các phương pháp nghiên cứu thích hợp để kiểm chứng giả thuyết đã nêu ra, trên cơ sở đó đề xuất các nhóm giải pháp phù hợp, đảm bảo các mục tiêu nghiên cứu. Những đóng góp mới của luận án Nội dung của luận án có một số điểm mới như sau: Thứ nhất: Trên cơ sở tập hợp lý luận nền tảng về phương pháp quản trị danh mục chủ động trong nền kinh tế hiện đại, sau khi so sánh với thực trạng quản trị danh mục cho vay tại Việt Nam, luận án đề xuất áp dụng phương pháp quản trị danh mục chủ động tại các ngân hàng TMCP Việt Nam nhằm hạn chế những tác động xấu của phương pháp quản trị thụ động đang được áp dụng tại một số ngân hàng TMCP Việt Nam hiện nay.
Phương pháp quản trị chủ động không có nghĩa là quản trị một cách chủ quan, duy ý chí, thoát ly khỏi thị trường, mà đề cao tính chủ động do kết hợp các yếu tố dự báo kinh tế, thị trường…bên ngoài với nội lực của ngân hàng. Tính chủ động thể hiện ngay từ khâu thiết lập danh mục, cho đến khi giám sát và điều chỉnh danh mục nhằm đạt mục tiêu đã hoạch định. Phương pháp quản trị danh mục cho vay chủ động có nhiều điểm khác biệt với phương pháp hiện tại z xxvi của các ngân hàng Việt Nam: nặng về thụ động và chủ yếu xem xét trên khía cạnh định tính. Có thể nói quản trị chủ động là xu thế khách quan trong hoạt động ngân hàng, xuất phát từ yêu cầu hội nhập quốc tế mạnh mẽ và môi trường cạnh tranh ngày càng khốc liệt.
Chính vì vậy, cần một sự thay đổi căn bản từ phía các ngân hàng TMCP, không thể duy trì mãi phương pháp quản trị thụ động như hiện tại được. Thứ hai: Luận án đề xuất xây dựng mô hình đo lường rủi ro danh mục cho vay tại các ngân hàng TMCP. Hiện tại chưa có bất kỳ một ngân hàng TMCP nào tại Việt Nam xây dựng hoàn chỉnh mô hình này (được biết vào thời điểm cuối năm 2010, ngân hàng Công thương Việt Nam/Vietinbank đang xúc tiến xây dựng mô hình đo lường /quản trị rủi ro mà các nước đang áp dụng). Mô hình đo lường rủi ro mà luận án đề xuất sẽ giúp các ngân hàng TMCP định lượng chính xác mức độ rủi ro trên danh mục cho vay của ngân hàng mình, trên cơ sở đó tính toán tổn thất để trích lập dự phòng rủi ro, cũng như duy trì vốn tự có sát đúng với mức độ rủi ro riêng biệt của từng ngân hàng.
Cách tính toán của các mô hình đề xuất khác biệt với cách tính theo quy định hiện tại của ngân hàng Nhà nước (chỉ là phương pháp tính áp dụng chung cho tất cả các ngân hàng thương mại và chưa đề cập đến rủi ro của toàn danh mục). Cho đến nay kiến thức lý luận về xây dựng mô hình đo lường rủi ro danh mục chưa được đề cập trong các tài liệu giảng dạy chính thống tại các trường đại học về tài chính ngân hàng ở Việt Nam. Vì vậy đề xuất này của luận án trước hết nhằm hệ thống hóa về mặt lý luận, sau đó từng bước đưa vào vận dụng phù hợp điều kiện thực tế của Việt Nam trong giai đoạn tới. Mô hình đo lường rủi ro danh mục mà luận án đề xuất gồm có hai dạng, có thể áp dụng cho các ngân hàng khác nhau tùy thuộc vào điều kiện và năng lực quản trị của mỗi ngân hàng.
Đây là 2 trong số nhiều mô hình đã từng áp dụng tại ngân hàng các nước phát triển. Sở dĩ luận án lựa chọn và đề xuất các mô hình này là vì chúng có những điểm tương thích với điều kiện hoạt động của các ngân hàng TMCP Việt Nam. z xxvii Thứ ba: Luận án đề xuất áp dụng chứng khoán hóa và công cụ phái sinh tín dụng với ý nghĩa hai công cụ này được sử dụng để điều chỉnh ngoại bảng đối với danh mục cho vay của ngân hàng. Thông qua việc sử dụng các công cụ này, rủi ro danh mục cho vay của ngân hàng sẽ được giảm thiểu.
Hiện nay khi cần điều chỉnh danh mục cho vay, chủ yếu các ngân hàng thương mại Việt Nam nói chung và ngân hàng TMCP nói riêng sử dụng phương pháp điều chỉnh nội bảng (còn gọi là phương pháp truyền thống). Đặc điểm của phương pháp này là có độ trễ về thời gian phát huy hiệu quả, mặt khác nó làm thay đổi cấu trúc danh mục, ảnh hưởng đến mối quan hệ khách hàng, nhiều khi ngoài mong muốn của ngân hàng. Vì vậy, đề xuất áp dụng phương pháp ngoại bảng nhằm làm đa dạng hoá các biện pháp điều chỉnh danh mục cho vay của các ngân hàng TMCP Việt Nam, phù hợp với các tình huống diễn biến khác nhau trong quản trị. Tính đến thời điểm năm 2010, đây là đề xuất mới, vì chứng khoán hoá và công cụ phái sinh tín dụng chưa được áp dụng trong hoạt động ngân hàng tại Việt Nam (các ngân hàng mới chỉ áp dụng phái sinh vàng và phái sinh tiền tệ trong kinh doanh ngoại hối).
Mặc dù lý luận về chứng khoán hoá và phái sinh tín dụng có được nhắc đến trong tài liệu giảng dạy hoặc trong các bài báo, công trình nghiên cứu tại Việt Nam, nhưng vận dụng chúng dưới góc độ là công cụ quản trị danh mục cho vay thì chưa được chú trọng đến. Do đó, đề xuất này nhằm làm sáng tỏ về lý luận, sau đó từng bước ứng dụng vào thực tiễn tại Việt Nam trong thời gian tới. Nội dung của luận án được cấu trúc thành 3 chương: Chương 1: Lý luận cơ bản về quản trị danh mục cho vay tại ngân hàng thương mại. Chương 2: Thực trạng quản trị danh mục cho vay tại các ngân hàng thương mại cổ phần Việt Nam Chương 3: Giải pháp hoàn thiện hoạt động quản trị danh mục cho vay tại các ngân hàng thương mại cổ phần Việt Nam z 1 CHƯƠNG 1 LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ QUẢN TRỊ DANH MỤC CHO VAY TẠI NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 1.
DANH MỤC CHO VAY TẠI CÁC NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 1.