Chương 1: Những vấn đề lý luận về pháp luật quản trị công ty cổ phần theo mô hình không có ban kiểm soát. Chương 2: Thực trạng pháp luật và thực tiễn áp dụng pháp luật về quản trị công ty cổ phần theo mô hình không có ban kiểm soát ở Việt Nam hiện nay. Chương 3: Phương hướng và giải pháp hoàn thiện pháp luật về quản trị công ty cổ phần theo mô hình không có ban kiểm soát. NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ PHÁP LUẬT QUẢN TRỊ CÔNG TY CỔ PHẦN THEO MÔ HÌNH KHÔNG CÓ BAN KIỂM SOÁT 1.
Khái luận về quản trị công ty cổ phần 1. Lịch sử hình thành, phát triển của Công ty cổ phần Đầu tiên, CTCP là hình thức đầu tiên của loại hình công ty đối vốn. Là sản phẩm của các nhà lập pháp từ nhu cầu của thực tiễn kinh doanh, khi hoạt động kinh doanh và nhu cầu của các nhà kinh doanh từ đó pháp luật mới thừa nhận và đưa vào trở thành một chế định pháp lý. Về lịch sử của CTCP được ghi nhận đầu tiên ở Pháp vào năm 18671 và ở Đức năm 18702.
Một số nhà nghiên cứu lại có quan điểm, hình thức công ty cổ phần được “phôi thai” từ thời La Mã cổ đại.3 Sự xuất hiện đầu tiên vào những năm 1600-1874 của các công ty cổ phần xuất hiện đầu tiên trên thế giới là công ty Đông Ấn (East India Company) của Anh. Được thành lập vào 31/10/1860 với 218 người và được cấp phép độc quyền kinh doanh trong vòng 15 năm ở vùng Đông Ấn. “Người đầu tư góp vốn theo chuyến đi biển và sau mỗi chuyến đi biển nhận lại vốn cổ phần và tiền lãi”4 như vậy thấy rằng công ty đầu tiên này được quản trị, vận hành còn sơ sài nhưng là dấu mốc đầu tiên với sự bắt đầu của CTCP. Sau đó ở các quốc gia khác cũng xuất hiện các công ty cổ phần theo hình thức tương tự như ở Hà Lan, Thuỷ Điển, Đan Mạch, Đức, Mỹ,… Cuối thế kỷ XVII đầu thế kỷ XIX, CTCP phát triển ở nhiều lĩnh vực như giao thông, vận tải, xây dựng, cơ khí, ngân hàng,… Cùng với sự phát triển mạnh mẽ của khoa học, kỹ thuật CTCP 1 Maurice Cozian, Alain Viandier (1992), Droit des Societes, Cinquième édition, Litec, Paris, P1999 2 Friedrich Kuebler, Juergen Simon (1992), Mấy vấn đề pháp luật kinh tế Cộng hoà Liên bang Đức, NXB Pháp lý, tr42 3 Ngô Huy Cương (2013), Giáo trình Luật Thương mại (phần chung và thương nhân), Khoa Luật- Đại học Quốc gia Hà Nội, NXB Đại học Quốc gia Hà Nội, tr217 4 Lê Tài Triển, Nguyễn Vạng Thọ & Nguyễn Tân ( 1972), Luật thương mại Việt Nam dẫn giải, Quyển II, Nhóm Nghiên cứu và dự hoạch, Sài Gòn, Tr10 9 cũng góp phần to lớn trong việc phát triển kinh tế - xã hội và đồng thời phát triển mở rộng phạm vi ở nhiều nước, nhiều khu vực, phát triển thành những công ty đa quốc gia đúng như nhận định “Công ty cổ phần đã phát triển ở hầu hết các nước từ đơn giản đến phức tạp, từ quy mô nhỏ đến quy mô lớn, từ một ngành đến đa ngành, từ một quốc gia đến nhiều quốc gia thông qua các công ty siêu quốc gia”5 Nguồn gốc hay truyền thống pháp luật sẽ có những ảnh hưởng tới hệ thống pháp luật của các quốc gia như thuộc hệ thống pháp luật dân luật hay hệ thống pháp luật thông luật là một trong những yếu tố ảnh hưởng tới các quy định pháp hay định hướng xây dựng, cải cách pháp luật ở các quốc gia.
Hệ thống pháp luật là tổng thể các quy phạm pháp luật có mối quan hệ nội tại thống nhất với nhau trực tiếp điều chỉnh các quan hệ xã hội 6 được xây dựng và vận hành dựa trên nền tảng chuyên biệt về triết lý, hệ tư tưởng, nguyên tắc pháp lý, thứ mà được gọi là truyền thống pháp lý. 7 Do vậy pháp luật Việt Nam chịu ảnh hưởng pháp luật Civil law và pháp luật quản trị công ty cũng chịu ảnh huởng nhiều của truyền thống dân luật. Không chỉ thế, pháp luật Việt Nam nói chung và pháp luật về quản trị công ty cổ phần nói riêng cũng luôn học tập, phát triển với xu thế chung của thế giới do vậy pháp luật quản trị công ty cổ phần đã được ban hành, sửa đổi và hoàn thiện qua từng giai đoạn lịch sử pháp luật: Đầu tiên, giai đoạn đầu tiên khi bị Pháp chiếm đóng thì theo đó pháp luật về công ty của Pháp được du nhập vào Việt Nam theo đường chinh phục thuộc địa, thông qua “hội người”, sau “hội vốn” đã phục vụ cho nhu cầu khai thác 5 Đặng Cẩm Thuý (1997), Bàn về con đường hình thành công ty cổ phần ở các nước Tư bản và vận dụng vào Việt Nam, Tạp chí NCKT, Số 225, tr. 6 Guadalupe Soriano - Barabino (2016), Comparative Law for Legal Tralators, New Trend Translator in Traslationstudies, vol 7, Peter Lang publishing, Oxford, tr.23; Matti Joutsen (2010), Legal Traditions, in Magai Natarajan (ed.), International crime and Justice, Cambridge University Press, UK, tr.
7 Châu Quốc An (2022), Luận án tiến sĩ “Hoàn thiện pháp luật quản trị công ty cổ phần đại chúng ở Việt Nam hiện nay”, Đại học Kinh tế Luật- ĐHQG TPHCM, Thành phố Hồ Chí Minh, Tr78 10 thuộc địa, và sinh hoạt của người Pháp ở Đông Dương. Cụ thể, pháp luật về CTCP được ghi nhận đầu tiên trong “Bộ Dân luật thi hành tại các toà án Nam, Bắc Kỳ”, đây là những bước đầu, là nền tảng sơ khai cho những quy định pháp lý sau này. Năm 1972, Bộ luật Thương mại được chính quyền Việt Nam Cộng Hoà ban hành, bộ luật được kế thừa từ quy định của công ty dưới thời Pháp thuộc và du nhập những kinh nghiệm mới của quốc gia khác có thể nói đây là một bộ luật thương mại đồ sộ khá hoàn chỉnh về khoa học pháp lý. Đến năm 1990 Luật công ty được ban hành, quy định về hình thức CTCP.
Cơ cấu quản trị công ty bao gồm Đại hội đồng cổ đông, Hội đồng quản trị, Ban kiểm soát và Giám đốc điều hành. Ở Luật Công ty 1990 có sự thay đổi, khi bỏ Uỷ viên kiểm toán mà xây dựng “Ban kiểm soát” với nhiệm vụ kiểm toán nội bộ công ty. Đến Luật Doanh nghiệp 2014 có những thay đổi lớn, thấy được hết những ưu nhược điểm của các mô hình quản trị công ty cổ phần đã tồn tại. Tập trung vào mục đích phát triển chứ không chỉ ở hình thức của công ty.
Từ đây mô hình quản trị công ty cổ phần có thay đổi rõ nét. Việc điều hành hay mối quan hệ giữa cổ đông và các cơ quan khác nhau trong công ty. Quản lý, điều hành công ty cổ phần dựa vào ba cơ quan chính: Đại hội đồng cổ đông, Hội đồng quản trị, Giám đốc hoặc Tổng giám đốc. Luật Doanh nghiệp quy định tuỳ theo mỗi loại mô hình, mà công ty cổ phần sẽ có Ban kiểm soát hay không.
Khái niệm, đặc điểm của Công ty cổ phần Khái quát về lịch sự hình thành và phát triển của công ty cổ phần ở trên, hiểu rằng công ty cổ phần đã manh nha từ thời cổ đại La Mã, và phát triển từ giai đoạn đầu của nền kinh tế công nghiệp khi các nhà tư bản cần mở rộng kinh doanh đòi hỏi nguồn vốn lớn, cũng như hạn chế những rủi ro có thể xảy ra, việc tham gia vào việc điều hành công ty không cần thiết,… Chính những 11 điều này, khẳng định việc hình thành, phát triển và hoàn thiện loại hình công ty cổ phần là vô cùng cần thiết, nó đáp ứng được mọi đòi hỏi của thị trường, phát triển kinh tế. Được ra đời như một tổ chức kinh doanh, phát triển, thay đổi theo từng giai đoạn lịch sử, trong những điều kiện kinh tế- xã hội nhất định, có thể nói sự hình thành và phát triển của Công ty cổ phần gắn liền với sự hình thành của thị trường vốn và thị trường tiền tệ. “Công ty cồ phần là một loại hình kinh doanh phổ biến hiện nay, được xem là phương thức phát triển cao nhất cho đến nay của loài người để huy động vốn cho kinh doanh và qua đó làm cho nền kinh tế của mỗi quốc gia phát triển”8 Có nhiều có cách gọi công ty cổ phần, từ trước đây người ta gọi công ty cổ phần này là công ty vô danh. Ở các nước khác nhau thì sẽ gọi khác nhau, như ở Pháp là “anonymous company”- công ty vô danh; ở Anh thì “company LTD”- công ty với trách nhiệm hữu hạn; ở Mỹ gọi “Commercial coporation”- công ty kinh doanh; ở Nhật gọi “Kabushiki Kaisha”- công ty chung cổ phần.
9 Pháp luật Việt Nam có ghi nhận khái niệm về CTCP tại Điều 111 Luật Doanh nghiệp 2020: “1. Công ty cổ phần là doanh nghiệp, trong đó: a) Vốn điều lệ được chia thành nhiều phần bằng nhau gọi là cổ phần; b) Cổ đông có thể là tổ chức, cá nhân; số lượng cổ đông tối thiểu là 03 và không hạn chế số lượng tối đa; c) Cổ đông chỉ chịu trách nhiệm về các khoản nợ và nghĩa vụ tài sản khác của doanh nghiệp trong phạm vi số vốn đã góp vào doanh nghiệp; 8 Nguyễn Ngọc Bích (2003). Luật Doanh nghiệp, vốn và quản lý trong công ty cổ phần, Nxb. 9 Viện Kinh tế Thế giới (1991) Công ty cổ phần? Các nước phát triển – Quá trình thành lập, tổ chức quản lý, Nxb.
12 d) Cổ đông có quyền tự do chuyển nhượng cổ phần của mình cho người khác, trừ trường hợp quy định tại khoản 3 Điều 120 và khoản 1 Điều 127 của Luật này.” Những đặc điểm của công ty cổ phần như sau: Thứ nhất, CTCP là công ty đối vốn. Vốn điều lệ của công ty được chia thành những phần nhỏ nhất bằng nhau, còn được gọi là cổ phần, mỗi phần tương đương với một cổ phần. Mỗi cổ phần được sở hữu có sẽ có giá trị trên sàn giao dịch, có thể gọi là mệnh giá, các cổ phần có giá trị được đưa lên sàn giao dịch, được bán, chuyển nhượng,. Bởi hình thức công ty nên CTCP có phần không quan tâm nhiều tới nhân thân của thành viên mà coi trọng cổ phần hơn, tư cách cổ đông của công ty được xác định dựa trên căn cứ quyền sở hữu cổ phần.
Quyền tự do chuyển nhượng cổ phần do các cổ đông quyết định trừ các trường hợp pháp luật không quy định hoặc không được chuyển nhượng. Tùy từng loại cổ phần để quyết định mức độ tự do chuyển nhượng như thế nào. Như vậy, cơ cầu cổ đông có thể thay đổi do hoạt động tự do chuyển nhượng cổ phần của các cổ đông, nhưng cũng không làm ảnh hưởng tới bản chất của công ty.