mở đầu kỷ nguyên độc lập tự chủ lâu dài cho dân tộc ta, diên cách miền Phố Hiến - Hưng Yên không thay đổi, đều lệ thuộc vào đất huyện Chu Diên, quận Giao Chỉ hay An Nam đô hộ phủ (đời Đường). Thế kỷ X, miền đất này có tên gọi là Đằng Châu - địa bàn cát cứ của sứ quân Phạm Bạch Hổ. Năm 1005, vua Lê Long Đĩnh đổi Đằng Châu thành phủ Thái Bình. Năm 1010, sau khi lên ngôi hoàng đế, vua Lý Thái Tổ chia cả nước thành 24 lộ, miền Hưng Yên ngày nay thuộc vào lộ Khoái.
Song bên cạnh đó, tên gọi châu Đằng vẫn được nhắc đến với tư cách là khu vực hành chính nhỏ ngang với địa vị các huyện và vẫn lệ thuộc vào các châu lộ [1,121]. Như vậy, đời Lý, miền Phố Hiến - Hưng Yên chính là đất châu Đằng thuộc lộ Khoái. Sang thời Trần, năm 1249, cả nước được chia thành 12 lộ, miền đất này lại thuộc về huyện Vĩnh Động, lộ Khoái Châu (hay Khoái Lộ). Đầu thế kỷ XV, nhà Minh xâm lược và đô hộ nước ta.
Về địa lý hành chính, nước ta bị đổi đặt làm quận Giao Chỉ và đặt các châu huyện lệ thuộc vào 15 phủ và 5 châu lớn. Lộ Khoái Châu và phủ lộ Long Hưng đời Trần gộp lại thành phủ Trấn Man. Theo đó, Phố Hiến - Hưng Yên lệ thuộc vào phủ Trấn Man, quận Giao Chỉ. Sau khi 16 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Lê Lợi đánh đuổi quân Minh xâm lược và khôi phục nền độc lập dân tộc, cả nước được chia làm 5 đạo.
Hưng Yên thuộc về Nam Đạo. Đến năm 1466, Lê Thánh Tông chia cả nước thành 12 đạo thừa tuyên, Hưng Yên thuộc thừa tuyên Thiên Trường. Năm 1469 đổi gọi là Sơn Nam. Phố Hiến - Hưng Yên đổi thuộc vào huyện Kim Động, phủ Khoái Châu, thừa tuyên Sơn Nam, sau thuộc vào Sơn Nam Thượng từ năm Cảnh Hưng thứ 2 (1741).
Đến năm 1802, Gia Long lấy hai trấn Sơn Nam Thượng và Sơn Nam Hạ lệ vào Bắc Thành. Năm 1831, Minh Mệnh chia lại địa giới các trấn, phủ, đặt thành 18 tỉnh. Tỉnh Hưng Yên được thành lập thống trị 2 phủ với 8 huyện. Vùng Phố Hiến - Hưng Yên vẫn thuộc về đất huyện Kim Động, phủ Khoái Châu.
Tháng 8 năm 1946, thị xã Hưng Yên được thành lập. Vùng đất này chính thức tách khỏi huyện Kim Động về mặt địa giới hành chính. Khi đó, thị xã được chia thành hai khu phố Đẩu Lĩnh và Đằng Giang. Sau một thời gian sát nhập với tỉnh Hải Dương thành tỉnh Hải Hưng, năm 1997, tỉnh Hưng Yên được tái lập, thị xã Hưng Yên trở thành tỉnh lỵ và là một trong 6 đơn vị hành chính cấp huyện, thị của tỉnh.
Hiện nay, thị xã Hưng Yên có tổng diện tích tự nhiên là 46,8 km2, số dân thường trú là 7,6 vạn dân, bao gồm 12 đơn vị hành chính: Bảng 1.1: Diện tích, dân số các đơn vị hành chính trực thuộc thị xã Hƣng Yên (Nguồn: Bản đồ thị xã Hưng Yên 2004) Mật độ Tên đơn vị Diện tích Dân số STT (ngƣời/ hành chính (ha) (ngƣời) km2) 1 Phường Lam Sơn 782,42 6528 858 2 Phường An Tảo 322,56 8444 2618 3 Phường Hiến Nam 351,56 5338 1518 4 Phường Lê Lợi 94,20 6440 6837 5 Phường Quang 44,58 8141 18262 Trung 6 Phường Minh Khai 223,19 5411 2424 7 Phường Hồng Châu 216,61 3252 1501 8 Xã Bảo Khê 397,82 5892 1431 9 Xã Trung Nghĩa 514,12 8913 1734 10 Xã Liên Phương 534,00 6676 1250 17 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 11 Xã Hồng Nam 382,00 4034 1114 12 Xã Quảng Châu 830,30 7540 908 Toàn thị xã 4653,36 76408 1642 Vị trí địa lý Hưng Yên là tỉnh nằm giữa đồng bằng châu thổ Bắc Bộ (điểm trung tâm của châu thổ Bắc Bộ nằm tại thôn Dung, xã Hưng Đạo, huyện Tiên Lữ trên vĩ tuyến 20043’ và kinh độ 106006’) với cảnh quan sinh thái điển hình là ruộng đồng bằng phẳng được bao bọc bởi hệ thống đê sông dày đặc và những bãi sông màu mỡ chạy dọc sông Hồng và sông Luộc. Về hình dáng, Hưng Yên giống như một lá cờ bay trước gió với những nếp nhăn là hệ thống sông ngòi ngang dọc. Hay có thể nói Hưng Yên giống như một hình chữ nhật với các góc gần vuông. Vùng Phố Hiến xưa - Hưng Yên nay nằm chính trên một góc gần vuông đó và ở về phía tây nam của tỉnh.
Về ranh giới hành chính, vùng đất này nằm sát sông Hồng về phía Tây, đối ngạn với huyện Duy Tiên (Hà Nam) bên hữu ngạn. Phía tây bắc và bắc, giáp các xã Hùng Cường, Hiệp Cường, huyện Kim Động. Phía đông và đông nam giáp các xã Nhật Tân, An Viên, Thủ Sỹ, Phương Chiểu, Tân Hưng và Hoàng Hanh của huyện Tiên Lữ. Tính từ trung tâm thị xã đến ngã ba cửa Luộc – nơi sông Hồng và sông Luộc giao nước - ước chừng khoảng 4 km theo đường chim bay.
Vùng đất này đã trải qua nhiều thay đổi về diên cách, song về cơ bản đây vẫn là địa bàn có vị trí đặc biệt quan trọng đối với hệ thống giao thông đường thuỷ của châu thổ Bắc Bộ. Là đỉnh của “hạ châu thổ”, Phố Hiến - Hưng Yên nằm sát sông Hồng và được giới hạn bởi sông Luộc ở phía đông bắc và sông Châu Giang (hiện nay đã bị lấp) ở phía tây nam. Thuận đường sông Hồng xuôi xuống phía đông nam có thể tiến ra Vị Hoàng (Nam Định ngày nay) và đến các địa phương khác thuộc Sơn Nam Hạ xưa theo đường sông Châu Giang. Theo tuyến sông Luộc, từ Phố Hiến - Hưng Yên có thể tới Hải Dương, An Quảng.
Như vậy, theo các tuyến đường sông chính, Phố Hiến - Hưng Yên có khả năng kết nối với hầu hết các địa phương ở vùng hạ châu thổ. Ngoài ra, vị trí của vùng đất này còn có ý nghĩa chiến lược đối với Thăng Long Hà Nội – trung tâm chính trị, kinh tế lớn nhất của châu thổ Bắc Bộ từ năm 18 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail. Các địa phương ở hạ châu thổ muốn lên Thăng Long theo đường thuỷ đều phải đi qua Phố Hiến. Mọi tuyến giao thương liên khu vực từ vịnh Bắc Bộ lên Thăng Long đều phải qua Phố Hiến.
Rõ ràng sự kiện Lý Công Uẩn dời đô về Thăng Long đã góp phần nâng tầm ý nghĩa chiến lược của vùng Phố Hiến lên thêm một bước. Giáo sư Nguyễn Quang Ngọc nhận định “Vào đầu thế kỷ XI, khi Lý Công Uẩn quyết định dời đô từ Hoa Lư về Thăng Long thì khu vực Phố Hiến đã trở thành đầu mối giao thông quan trọng nhất nối liền kinh đô với các miền đất nước, vì thế đương nhiên nó trở thành cửa ngõ quan trọng hàng đầu ảnh hưởng trực tiếp đến sự an nguy của quốc gia cả về kinh tế và quốc phòng”. Đúng vậy, vị trí chiến lược về quốc phòng của vùng đất này đã được chứng minh qua hàng loạt các sự kiện quân sự diễn ra tại đây trong các thế kỷ I, thế kỷ X, XIII, XVIII. Thế kỷ XVI – XVII, vị thế chiến lược về kinh tế của khu vực này được khẳng định với việc Phố Hiến trở thành thương cảng sầm uất vào bậc nhất của Đàng Ngoài.
Nằm án ngữ cửa ngõ vào Thăng Long, mọi thuyền buôn nước ngoài từ vịnh Bắc Bộ dù đi theo cửa sông Thái Bình, sông Hồng (cửa Ba Lạt) hay cửa sông Đáy (cửa Rokbo) muốn lên kinh thành cũng đều phải qua Phố Hiến. Điều này được minh chứng rõ rệt qua hệ thống Bản đồ sông Đàng Ngoài thế kỷ XVII (BĐ1.5) do các thương nhân, nhà hàng hải Hà Lan, Anh Quốc vẽ khi đến buôn bán ở Bắc Bộ cũng như mô tả trong các tập du ký của nhà hàng hải William Dampier, JB Tavernier viết vào thế kỷ XVII khi các tác giả này có cơ hội du hành đến Đàng Ngoài. Theo các sử liệu này, thương nhân phương Tây đến buôn bán ở Đàng Ngoài đều từ vịnh Bắc Bộ đi vào theo lối cửa sông Thái Bình đến buông neo tại Domea (Tiên Lãng, Hải Phòng) và dùng thuyền nhỏ theo đường sông Luộc đến Phố Hiến rồi vào sông Hồng trước khi lên Thăng Long. Vị trí của Phố Hiến theo William Dampier mô tả thì “ở cách nơi chúng tôi để tàu (tức Domea) độ 60 dặm (96 km) và cách biển chừng 80 dặm (128 km)” [45,35].
Do vậy, đây là vị trí lý tưởng để thiết lập các trạm tuần tra thu thuế. Có lẽ đây chính là lý do quan trọng nhất quyết định đến việc chính quyền chúa Trịnh đã đặt Hiến ty của toàn vùng 19 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Sơn Nam ở Phố Hiến để kiểm soát và thu thuế của các thương thuyền ngoại quốc. Trong tập du ký của William Dampier, nhà hàng hải người Anh cũng ghi chép rõ điều này: “Quan tổng trấn hoặc viên phó quan cấp giấy thông hành cho tất cả mọi thuyền bè đi ngược xuôi trên sông. Người ta không cho phép một thuyền nào đi mà không có giấy thông hành” [45,37].
Vào thế kỷ XIX, Nguyễn Siêu cũng khẳng định rõ chức năng tuần ty, thu thuế của Phố Hiến trong tác phẩm Phương Đình địa dư chí: “Trấn Sơn Nam thời Lê Trung Hưng còn có Đại An hải khẩu (thuộc tỉnh Nam Định), thuyền buôn nước ngoài đến đây có quan khám xét nhưng kém hơn Cửa Hiến ở huyện Kim Động”. PGS Nguyễn Văn Kim trong công trình nghiên cứu Quan hệ của Nhật Bản và Đông Nam Á thế kỷ XV – XVI cũng nhận định rõ: “Đối với Đại Việt, thuyền của các thương nhân ngoại quốc đến buôn bán với Đàng Ngoài phải đi theo hệ thống sông Hồng và thường dừng lại ở khu vực cửa sông hay Phố Hiến để kiếm tra hàng hoá và định mức thuế” [94,171]. Như vậy có thể thấy, không chỉ là đô thị kinh tế, Phố Hiến trong thế kỷ XVI-XVII còn là đô thị hành chính, trung tâm chính trị của toàn vùng Sơn Nam rộng lớn. “Nhìn dưới góc độ an ninh, Phố Hiến còn như một trạm kiểm soát vòng ngoài bảo vệ kinh đô Thăng Long, điều tiết các hoạt động ngoại thương và ở một mức độ nào đó có thể đại diện cho chính quyền Đàng Ngoài giao dịch với thương nhân ngoại quốc.
[94,22] Vị trí cửa ngõ giao thương đã biến Phố Hiến thành đầu mối gặp gỡ, trung chuyển của các luồng ngoại thương và nội thương lớn nhất Đàng Ngoài. Hàng hoá của Đàng Trong hay các địa phương khác muốn lên Thăng Long đều qua Phố Hiến. Ngược lại, hàng hoá của Đàng Ngoài muốn vận chuyển ra nước ngoài hay vào Đàng Trong cũng đều tập kết tại Phố Hiến.