Quan Niệm Về Thơ Trên Tạp Chí Văn Nghệ Quân Đội Giai Đoạn 1986 - 2006

Luận văn thạc sĩ phân tích quan niệm về thơ trên tạp chí Văn nghệ Quân đội giai đoạn 1986-2006, khám phá sự phát triển và ảnh hưởng văn học.

Trường đại học

Đại Học Quốc Gia Hà Nội

Chuyên ngành

Văn Học Việt Nam

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận Văn Thạc Sĩ

2009

98
1
0

Phí lưu trữ

35 Point

Tóm tắt

I. Tổng Quan Về Quan Niệm Về Thơ Trên Tạp Chí Văn Nghệ Quân Đội

Giai đoạn 1986-2006 đánh dấu một bước chuyển mình mạnh mẽ trong văn học Việt Nam, đặc biệt là trong lĩnh vực thơ ca. Tạp chí Văn Nghệ Quân Đội đã trở thành một diễn đàn quan trọng, nơi các nhà thơ và nhà phê bình thảo luận về quan niệm thơ. Những quan niệm này không chỉ phản ánh tâm tư của tác giả mà còn thể hiện bối cảnh xã hội và văn hóa của thời kỳ đổi mới. Việc nghiên cứu quan niệm về thơ trên tạp chí này giúp hiểu rõ hơn về sự phát triển của thơ ca Việt Nam trong giai đoạn này.

1.1. Bối Cảnh Lịch Sử Của Thơ Việt Nam Giai Đoạn 1986 2006

Giai đoạn 1986-2006 là thời kỳ đổi mới, nơi mà văn học Việt Nam trải qua nhiều biến động. Tạp chí Văn Nghệ Quân Đội đã đóng vai trò quan trọng trong việc phản ánh những thay đổi này. Các tác giả đã thể hiện những quan niệm mới về thơ, từ đó tạo ra một không gian sáng tạo phong phú.

1.2. Đặc Điểm Của Quan Niệm Về Thơ Trên Tạp Chí

Quan niệm về thơ trên tạp chí Văn Nghệ Quân Đội thể hiện sự đa dạng và phong phú. Các nhà thơ không chỉ tập trung vào nội dung mà còn chú trọng đến hình thức và ngôn ngữ. Điều này cho thấy sự phát triển của nghệ thuật thơ ca trong bối cảnh xã hội mới.

II. Những Thách Thức Trong Việc Định Hình Quan Niệm Về Thơ

Trong quá trình phát triển, quan niệm về thơ trên tạp chí Văn Nghệ Quân Đội đã gặp phải nhiều thách thức. Những yếu tố như sự thay đổi trong tư duy sáng tạo, áp lực từ xã hội và thị trường văn học đã ảnh hưởng đến cách nhìn nhận và đánh giá thơ ca. Việc nhận diện những thách thức này là cần thiết để hiểu rõ hơn về sự phát triển của thơ ca trong giai đoạn này.

2.1. Áp Lực Từ Thị Trường Văn Học

Thị trường văn học ngày càng cạnh tranh đã tạo ra áp lực lớn đối với các nhà thơ. Họ phải tìm cách để tác phẩm của mình nổi bật giữa hàng loạt tác phẩm khác. Điều này dẫn đến việc nhiều tác giả phải điều chỉnh quan niệm về thơ để phù hợp với thị hiếu độc giả.

2.2. Sự Thay Đổi Trong Tư Duy Sáng Tạo

Tư duy sáng tạo của các nhà thơ cũng đã có sự thay đổi đáng kể. Họ không chỉ tìm kiếm cảm hứng từ cuộc sống mà còn từ những trào lưu văn hóa mới. Điều này đã tạo ra những quan niệm mới về thơ, nhưng cũng đặt ra nhiều câu hỏi về bản sắc và giá trị của thơ ca.

III. Phương Pháp Nghiên Cứu Quan Niệm Về Thơ Trên Tạp Chí

Để nghiên cứu quan niệm về thơ trên tạp chí Văn Nghệ Quân Đội, cần áp dụng các phương pháp phân tích và so sánh. Việc thống kê các bài viết, ý kiến và nhận định sẽ giúp xác định những xu hướng chính trong quan niệm về thơ. Phương pháp này không chỉ giúp làm rõ nội dung mà còn phản ánh sự phát triển của thơ ca trong bối cảnh xã hội.

3.1. Phân Tích Nội Dung Các Bài Viết

Phân tích nội dung các bài viết trên tạp chí sẽ giúp nhận diện được những quan niệm chủ đạo về thơ. Các tác giả thường đưa ra những luận điểm rõ ràng, từ đó tạo ra một bức tranh tổng thể về quan niệm thơ trong giai đoạn này.

3.2. So Sánh Với Các Giai Đoạn Khác

So sánh quan niệm về thơ trên tạp chí Văn Nghệ Quân Đội với các giai đoạn khác sẽ giúp làm nổi bật những điểm khác biệt và tương đồng. Điều này không chỉ giúp hiểu rõ hơn về sự phát triển của thơ ca mà còn phản ánh sự thay đổi trong tư duy văn học.

IV. Ứng Dụng Thực Tiễn Của Quan Niệm Về Thơ

Quan niệm về thơ trên tạp chí Văn Nghệ Quân Đội không chỉ có giá trị lý thuyết mà còn có ứng dụng thực tiễn trong sáng tác. Những quan niệm này đã ảnh hưởng đến cách các nhà thơ tiếp cận và sáng tạo tác phẩm của mình. Việc hiểu rõ những ứng dụng này sẽ giúp nâng cao chất lượng sáng tác thơ ca.

4.1. Tác Động Đến Sáng Tác Thơ

Các quan niệm về thơ đã tác động mạnh mẽ đến cách thức sáng tác của các nhà thơ. Họ không chỉ chú trọng đến nội dung mà còn tìm kiếm những hình thức mới mẻ, sáng tạo hơn trong tác phẩm của mình.

4.2. Tác Động Đến Độc Giả

Quan niệm về thơ cũng ảnh hưởng đến cách tiếp nhận của độc giả. Những tác phẩm thơ ca được sáng tác trong bối cảnh này thường mang lại những trải nghiệm mới mẻ và sâu sắc cho người đọc.

V. Kết Luận Về Quan Niệm Về Thơ Trên Tạp Chí

Tổng kết lại, quan niệm về thơ trên tạp chí Văn Nghệ Quân Đội giai đoạn 1986-2006 đã phản ánh sự phát triển mạnh mẽ của thơ ca Việt Nam. Những quan niệm này không chỉ mang tính lý thuyết mà còn có giá trị thực tiễn trong sáng tác. Việc nghiên cứu sâu hơn về vấn đề này sẽ giúp làm rõ hơn những giá trị văn học của thời kỳ đổi mới.

5.1. Tương Lai Của Quan Niệm Về Thơ

Tương lai của quan niệm về thơ trên tạp chí Văn Nghệ Quân Đội sẽ tiếp tục phát triển và thay đổi theo bối cảnh xã hội. Những yếu tố mới sẽ tiếp tục được đưa vào trong sáng tác, tạo ra những làn sóng mới trong thơ ca.

5.2. Định Hướng Nghiên Cứu Tiếp Theo

Định hướng nghiên cứu tiếp theo cần tập trung vào việc phân tích sâu hơn các tác phẩm thơ ca cụ thể, từ đó làm rõ hơn những quan niệm về thơ trong bối cảnh hiện đại.

01/07/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1: Giới thuyết thuật ngữ “Quan niệm về thơ” – Một số quan niệm về thơ trong truyền thống văn học Việt Nam Chương 2: Bối cảnh chung – Những nội dung cơ bản của quan niệm về thơ trên Văn nghệ Quân đội giai đoạn 1986 – 2006 Chương 3: Từ quan niệm đến thực tiễn sáng tác thơ trên Văn nghệ Quân đội giai đoạn 1986 - 2006 6 CHƢƠNG 1 GIỚI THUYẾT THUẬT NGỮ “QUAN NIỆM VỀ THƠ” – MỘT SỐ QUAN NIỆM VỀ THƠ TRONG TRUYỀN THỐNG VĂN HỌC VIỆT NAM 1. Giới thuyết thuật ngữ “Quan niệm về thơ” Để sáng tạo thơ ca, người làm thơ không chỉ cần đến những yếu tố như tài năng thiên bẩm, cảm xúc, khả năng sử dụng ngôn từ… mà còn cần được trang bị, hoặc “tự mình trang bị” một hệ thống mang tính lý thuyết về thể loại thơ. Nó sẽ có tác dụng trong việc nhà thơ xác định rõ ràng hướng đi của thơ mình trên tất cả các phương diện. Đồng thời, với hệ thống quan niệm đó, người làm thơ sau những giây phút thăng hoa sáng tạo tác phẩm, sẽ trở thành một nhà phê bình có tri thức và kinh nghiệm trong việc thẩm định thơ mình.

Hệ thống lý thuyết này có thể được hình thành từ chính sự trải nghiệm trong quá trình sáng tạo tác phẩm, hoặc là sản phẩm của việc lượm lặt, tích lũy kinh nghiệm từ các thế hệ đi trước, từ đồng nghiệp, từ các nhà phê bình. Ở một mặt khác, về phía độc giả, các nhà nghiên cứu phê bình, việc tìm hiểu hệ thống quan niệm về thơ của một tác giả thơ, một giai đoạn thơ sẽ giúp họ có trong tay cái gọi là “công cụ” nhằm soi chiếu, lý giải và đánh giá thỏa đáng trước mỗi một hiện tượng thơ. Vậy Quan niệm về thơ là gì? Theo nghĩa hẹp, việc trả lời câu hỏi này chính là đi xác định vấn đề: thơ là gì? Đây là một vấn đề thuộc về lý thuyết thể loại, nó giúp chúng ta khu biệt thơ ca với các thể loại khác như truyện ngắn, tiểu thuyết, kịch… Tương tự với một hiện tượng trong tiếp nhận văn học, có bao nhiêu độc giả thì sẽ có bấy nhiêu cách tiếp nhận, bấy nhiêu hiện tượng “đồng sáng tạo”; thực tế câu hỏi “Thơ là gì” luôn là một câu hỏi mở, mang tính lịch sử, và có đáp án đa dạng; tùy thuộc vào mỗi thời đại, mỗi dân tộc, trình độ 7 học vấn, địa vị xã hội… Nghìn năm đã trôi qua, loài người tiếp tục đi tìm lời giải. Trong phạm vi luận văn này, trên cơ sở tìm hiểu nguồn tư liệu thực tế, chúng tôi nhận thấy rằng, các ý kiến về thơ trên tạp chí Văn nghệ Quân đội trong giai đoạn 1986-2006 khá phong phú, nhiều chiều nhiều vẻ.

Hình thức phát ngôn đa dạng, có thể dưới dạng các bài nghiên cứu công phu, các bài bình thơ, thẩm thơ hay giới thiệu thơ; hoặc xuất hiện dưới dạng phỏng vấn, phát biểu ngắn, trao đổi… Đối tượng tham gia không giới hạn: có người là các nhà nghiên cứu nổi tiếng; nhiều người là nhà thơ – người trực tiếp tham gia vào quá trình thai nghén và sinh thành tác phẩm; lại có các ý kiến mang tính tản mạn từ phía công chúng…Vấn đề bàn luận đa dạng, không chỉ là câu trả lời cho câu hỏi “Thơ là gì”; người viết còn chú ý tới các phương diện khác như: cảm xúc trong thơ, tài năng nhà thơ, bạn đọc và sự tiếp nhận thơ …Từ thực tế đó, với mong muốn thông qua các ý kiến luận bàn, bước đầu có cái nhìn mang tính tổng thể về “Quan niệm thơ” trên Văn nghệ Quân đội, giai đoạn đổi mới (1986-2006), chúng tôi sử dụng khái niệm “Quan niệm về thơ” với ý nghĩa không chỉ lý giải “Thơ là gì” mà còn đề cập tới nhiều vấn đề khác liên quan đến thơ, quá trình hình thành và tiếp nhận thơ ca. Chúng tôi quy vấn đề “Quan niệm về thơ trên Văn nghệ Quân đội giai đoạn 1986 – 2006” về các điểm như sau: Bản chất thơ, Mối quan hệ giữa thơ và cuộc sống, Nhà thơ và quá trình sáng tác thơ ca, Bạn đọc và hoạt động tiếp nhận thơ… 1. Quan niệm về thơ trƣớc 1986 1. Quan niệm về thơ thời trung đại Dân tộc Việt Nam là dân tộc có truyền thống thi ca.

Thơ được trọng vọng, tôn vinh. Người làm thơ được gọi là thi nhân, hàm chứa nét đẹp, sự tinh tuyển của cuộc đời và đất trời. Cùng với sáng tác thơ ca, truyền thống bàn luận 8 về thơ cũng phát triển. Cho đến ngày nay nhìn lại, chúng ta có thể thấy một hệ thống các quan niệm về thơ khá dày dặn.

Suốt thời trung đại Việt Nam, do hoàn cảnh lịch sử, do vai trò của văn hóa Hán, đặc biệt là do chế độ đào tạo và tuyển lựa nhân tài, nền học thuật (trong đó có hệ tri thức văn học) ở ta chịu ảnh hưởng sâu đậm và to lớn nền học thuật Trung Hoa. Thi luận cổ dân tộc không nằm ngòai thực tế này. Thêm vào đó, đúng như quan niệm của giáo sư I.Lisevich, trong thời cổ trung đại, các nền văn chương phương Đông chưa phát triển đồng đều mà thường theo quy luật: có một nền văn chương kiến tạo vùng, còn các nền văn chương khác tham gia tạo thành vùng văn chương lớn như văn chương Viễn đông mà hạt nhân là văn chương Trung Hoa, bên cạnh vùng văn chương Ấn Độ, vùng văn chương Cận Đông. Vì vậy, quan niệm về thơ thời trung đại cũng có sự ảnh hưởng sâu đậm từ quan niệm về thơ ca của Trung Hoa.

Ngày nay, chúng ta thường nói tới vai trò quyết định của chủ thể trong sáng tạo. Nguyên lý này có tính phổ quát bởi thơ là sản phẩm tinh thần của chính nhà thơ. Người xưa đã thể hiện nguyên lý chung đó bằng một định thức quen thuộc: Thơ là người; thơ là tâm, là gan ruột. Ngô Thì Vị viết về Trịnh Hoài Đức: “Thơ ông như người ông, điều mà ông gánh vác như điều mà ông tu dưỡng” [12; tr 110].

Nhận xét vừa bao quát vừa xác đáng. Thơ là người, mà người thì có nhiều loại, nên thơ cao thấp cũng không giống nhau. Nguyễn Cư Trinh viết: “Người có sâu cạn, cho nên thơ có mờ tỏ rộng hẹp khác nhau” [12; tr. Người có nhiều thiên hướng vì thế thơ cũng có nhiều “sở trường riêng” (lời Lê Quý Đôn).

Nguyễn Địch Cát xác định: “Người nào trội về nhân cách thì làm thơ hay trang nhã, người nào trội về khí phách thì làm thơ hay hùng hồn, người nào giỏi về dùng từ đặt câu thì làm thơ hay hoa mỹ, người nào giỏi về điển cố thì làm thơ hay vững vạng… xem thơ thì có thể mường tượng được người”[12; tr. Nhấn mạnh tới yếu tố bên trong, người xưa không coi nhẹ 9 yếu tố bên ngoài, nếu chưa có sự ăn nhập giữa hai yếu tố không thể bật thành tiếng thơ. Kính trai Ngô Hy Phan viết: “Bên trong có gì trái với tâm, bên ngoài không có gì chạm tới vật, nên biết bao nỗi lòng cao vợi thẳng ngay chưa hoàn toàn bộc lộ được [12; tr. Trước hết trong lòng phải có điều da diết muốn được giãi bày, cảnh chỉ là chỗ “ngụ ý”, sự chỉ là nơi “tự thuật”.

Nguyễn Thứ Phủ cho thơ của Lê Hy thường nảy sinh là do “đắc ý nơi núi sông, hay nhân việc nên lời” [12, tr. Chỉ khi lòng hóa thành nỗi riêng tư day dứt mới mong gửi gắm nơi cảnh vật. Như thế, rất rõ là cổ nhân luôn đề cao yếu tố chủ quan của nhà thơ, coi đây là một yếu tố hàng đầu trong việc sáng tạo thơ ca. Bên cạnh việc đề cao mệnh đề “thơ là người”, cổ nhân còn nhấn mạnh đến chữ “tâm”.

Thơ kỳ ngộ nhờ thấm nhuần và bắt nguồn từ “tâm”, Ngô Thì Nhậm viết: “Ý đẹp lời hay nhưng sự diệu kỳ vẫn hội ngộ ở bên tâm” [12; tr. Trước đó, ở bên Trung Quốc, Nhạc Phi đời Tống cũng viết: “Cái kỳ diệu của sự vận dụng là ở tâm” [12; tr. Vậy tâm là gì, theo Ngô Thì Nhậm, tâm là “đều có thể nói cái có thể nói, không thể nói cái không thể nói” [12; tr. 237]; ông lý giải rõ hơn: “Nó (tâm) gửi gắm nơi việc, bộc lộ nơi lời.

Còn như đối với việc mà nó gửi gắm, lời mà nó bộc lộ thì cũng như cá tât nhiên phải nhảy, chim tất nhiên phải bay” [12; tr. Tâm vì thế mà có sức sống. Như thế, thơ là cầu nối giữa tâm hồn với tâm hồn. Cho dù chữ tâm hàm nghĩa rộng đến đâu thì nó cũng luôn giữ vai trò quyết định trong thơ.

Thi ca chỉ phát ra khi có điều sở đắc ở tâm. Còn khi đã phát ra, nó phải tuân thủ theo mệnh lệnh của tâm. Đó là đạo của sự sáng tạo thơ ca, nghiêm ngặt và phổ quát. Đạo này sẽ chi phối cái đạo của sự cảm thụ thơ ca.

Một trong những điều gần gũi khác giữa quan niệm thơ xưa và nay là việc nhấn mạnh tới mối quan hệ của thi ca và đời sống. Cổ nhân cho rằng, có ba sự nghiệp lớn có thể lưu danh hậu thế. Đó là lập công, lập đức và lập ngôn. 10 Trong thực tế, ba sự nghiệp ấy gắn bó, hòa quyện với nhau.

Ý nghĩa lớn lao của văn chương đối với con người và cuộc đời xuất phát từ đây. Lê Quý Đôn viết thật bao quát, đúng đắn: “Văn chương là gốc lớn để lập thân, là việc lớn để sửa đời” [12; tr. Cao Xuân Dục đặt văn chương trong quan hệ trực tiếp với nghiệp nước: “văn là sự nghiệp lớn để trị nước, là công việc bất hủ, làm một lúc nhưng truyền lại muôn đời”[12; tr. Thi ca không nằm ngòai quỹ đạo chung này.

“Thi dĩ ngôn chí” – thơ là công cụ để bộc lộ chí khí con người. Bàn về mục đích thơ, Ninh Tốn xác định: “Việc là ở Ô Châu thực lục, nhưng nghĩa khuyên bảo răn đe, nhờ văn để hành đạo, nhưng không rơi vào phù hoa, tới việc để làm sáng lý, nhưng không đọng ở chỗ thô thiển, đặt nó nơi bình phong, có thể là sự toan tính sâu xa giúp thánh triều coi dân chế trị, khắc nó nơi ván gỗ, có thể là nuôi dưỡng to lớn thành sự khuyên răn mẫu mực cho ngàn vạn đời sau” [12; tr. Chính vì quan niệm thơ để tỏ chí, tỏ lòng như vậy nên các bài thơ cổ thường có tiêu đề như: Cảm hoài, Thuật hoài, Thuật hứng… Tiếp cận thơ cổ, người đọc thường thống nhất hay là đồng nhất chủ thể phát ngôn với chủ thể trữ tình, khám phá bài thơ là khám phá chủ thể nhà thơ.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ