Chương 1: BỐI CẢNH LỊCH SỬ VÀ TIỀN ĐỀ TƯ TƯỞNG DẪN TỚI QUAN NIỆM CỦA G.HEGEL VỀ QUYỀN CON NGƯỜI 1. Bối cảnh kinh tế - chính trị - xã hội Tây Âu và nước Đức cuối thế kỷ XVIII đầu thế kỷ XIX Triết học Đức cuối thế kỷ XVIII đầu thế kỷ XIX nói chung và triết học Hegel nói riêng ra đời trong một hoàn cảnh lịch sử khá đặc biệt và đầy mâu thuẫn. Lịch sử châu Âu đã cho thấy cuối thế kỷ XVIII đầu thế kỷ XIX các nước Tây Âu đều bị ảnh hưởng mạnh mẽ bởi hai sự kiện: cuộc cách mạng công nghiệp Anh và cuộc cách mạng tư sản Pháp. Cuối thế kỷ XVIII đầu thế kỷ XIX, phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa đã được thiết lập ở một số nước Tây Âu như Anh, Pháp, Italia.
Phương thức sản xuất mới với nền sản xuất phát triển chưa từng có trong lịch sử tỏ ra ưu việt hơn hẳn so với các phương thức sản xuất cũ. Lực lượng sản xuất phát triển nhanh, công cụ lao động ngày càng hiện đại tạo ra một khối lượng hàng hóa khổng lồ, phục vụ nhu cầu ngày càng cao của con người. Sự kiện quan trọng nhất trong đời sống kinh tế của xã hội tư bản lúc này là cuộc cách mạng công nghiệp ở Anh bắt đầu từ năm 1760. Nó đã biến nước Anh từ một nước có nền công nghiệp nhỏ bé thành một nước tư bản chủ nghĩa lớn mạnh nhất, có ảnh hưởng lớn về kinh tế và chính trị đến các nước trên thế giới.
Ở Pháp, trong những năm 1789 -1794 đã nổ ra cuộc cách mạng tư sản, thủ tiêu chế độ phong kiến và mở đường cho lực lượng sản xuất của xã hội tư bản phát triển. Đây là một sự kiện gây tiếng vang lớn, có ý nghĩa vạch thời đại. Nó đã làm cho những quan hệ phong kiến cũ bị phá vỡ, chế độ 9 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com chính trị quân chủ sụp đổ. Những người Đức tiên tiến đã rất phấn khởi chào đón sự kiện này, đặc biệt là các nhà triết học duy tâm Đức.
Khẩu hiệu “Tự do, bình đẳng, bác ái” được viết trên lá cờ của cách mạng tư sản Pháp đã có ảnh hưởng mạnh mẽ và là nguồn cảm hứng cho những vấn đề chính trị - xã hội của triết học Đức. Không phải ngẫu nhiên mà “tự do”, “tinh thần phổ biến” được đề cao và trở thành một trong những đề tài chủ đạo của các nhà triết học thời kỳ này. Những thành tựu về kinh tế, chính trị, xã hội, giáo dục mà chế độ tư bản đạt được đã góp phần khẳng định sức mạnh thể chất và tinh thần của con người trong việc nhận thức và cải tạo thế giới. Đồng thời, nó cũng tạo tiền đề quan trọng cho sự phát triển khoa học nói chung, triết học nói riêng.
Triết học của thời đại mới – thời đại tư bản chủ nghĩa đã dám cởi bỏ cái áo thần học vốn lâu nay che đậy chủ nghĩa duy tâm, chủ nghĩa kinh viện, chủ nghĩa giáo điều với những lý thuyết xa rời thực tế cuộc sống để khoác lên mình tấm áo mới – tấm áo của chủ nghĩa duy vật siêu hình và chủ nghĩa duy lý hay siêu hình học mới. Như một nhu cầu của lịch sử, triết học thâm nhập vào cuộc sống tìm tòi và khám phá sức mạnh lý tính của con người mà triết học I.Hegel là những ví dụ điển hình cho khuynh hướng đó. Tuy nhiên, trong khi các nước châu Âu có những bước phát triển nhảy vọt trên con đường phát triển tư bản chủ nghĩa thì nước Đức vẫn triền miên trong giấc ngủ mùa đông, vẫn còn là một nước quân chủ chuyên chế phân quyền, thấp kém và lạc hậu về kinh tế, bảo thủ trì trệ về chính trị - xã hội. Nước Đức già cỗi lúc bấy giờ chính thức được gọi là “đế quốc La Mã thần thánh của dân tộc German”.
Nền kinh tế bị ràng buộc bởi quan hệ sản xuất phong kiến lạc hậu, phát triển một cách trì trệ và manh mún. Sự tập trung ruộng đất trong tay địa chủ, những tàn dư của chế độ nông nô, chế độ phường hội trong thành thị đã làm năng suất lao động thấp, đời sống của 10 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com đại đa số quần chúng nhân dân trở nên nghèo nàn cùng cực. Hơn nữa, sự phân chia lãnh địa của hàng trăm cát cứ phong kiến đã cản trở đất nước phát triển theo con đường tư bản chủ nghĩa. Nhìn chung, bức tranh toàn cảnh của xã hội Đức đương thời phủ đầy một màu xám đúng như lời khắc họa của F.Engels: “Mọi cái đều tồi tệ và tâm trạng bất mãn bao trùm cả nước.
Không có giáo dục, không có phương tiện ảnh hưởng đến ý thức quần chúng, không tự do báo chí, không có dư luận xã hội, thậm chí không có buôn bán tương đối lớn với các nước khác - không có gì cả ngoài sự đê tiện và tự tư tự lợi; lề thói con buôn hèn mạt, xun xoe, nịnh hót thảm hại, đã xâm nhập toàn dân. Mọi thứ đều nát bét, lung lay, xem chừng sắp sụp đổ, thậm chí chẳng còn lấy một tia hy vọng chuyển biến tốt lên, vì dân tộc thậm chí không còn đủ sức vứt bỏ cái thây ma rữa nát của chế độ đã chết rồi” [31, tr. Lúc này nước Đức còn gọi là nước Phổ được thành lập bởi vua Friedrich I từ năm 1701. Từ năm 1701 đến năm 1713 Friedrich I đã cai trị và xây dựng triều đình dựa trên mô hình của nước Pháp – một mẫu mực của sự xa hoa.
Tuy nhiên, khác với vua cha, Friedrich Wilhelm I lại là một vị vua sống tiết kiệm và thực tế. Ông đã hạn chế chi phí của triều đình ở mức tối thiểu với mục đích tăng cường đầu tư vào việc xây dựng một quân đội thường trực mạnh mẽ, được nhà Vua coi là nền tảng quyền lực ở trong và ngoài nước. Với hàng loạt những chính sách tiến bộ như: khuyến khích phát triển thương mại và kỹ nghệ, cải cách chế độ thuế khóa và hành chính ông đã làm tăng gấp đôi thu nhập hàng năm cho nhà nước, củng cố được chế độ tập quyền đang rất lỏng lẻo bởi sự cát cứ phong kiến. Với tất cả những nỗ lực của mình trong việc trị vì đất nước, khi băng hà năm 1740, Vua Friedrich Wilhelm I đã để lại một đất nước được cố kết chặt chẽ về kinh tế và chính trị.
Xuất phát từ việc nhìn nhận vai trò to lớn của vị quốc 11 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com vương này cũng có thể phần nào lí giải tại sao Hegel lại có thái độ tôn sùng quốc vương và vương quốc Phổ. Tuy nhiên, bên cạnh những thành tựu ấy, việc quân sự hóa đời sống Phổ đã để lại những tác động tiêu cực tới xã hội và con người Phổ. Năm 1806, cuộc chiến giữa Pháp và Phổ bùng nổ. Nước Phổ nhanh chóng thất bại thảm hại trước đạo quân hùng mạnh của Napoleon, bị mất tới nửa lãnh thổ và sau đó buộc phải ký hiệp ước với Pháp.
Theo đó, từ năm 1807 trở đi, nước Phổ phải chịu sự chiếm đóng của quân đội Pháp. Đến năm 1813, nhân dân và quân đội Phổ đứng lên chống lại Pháp và đã góp phần rất lớn vào chiến thắng lịch sử tại Oateclo. Sau hội nghị Viên diễn ra năm 1815, nước Phổ nhận lại phần lớn lãnh thổ bị mất. Như vậy, điểm qua một cách vắn tắt lịch sử của nước Phổ giai đoạn này, chúng ta thấy, khác với các cường quốc khác của châu Âu như Anh và Pháp, sự hình thành nhà nước Phổ rất đặc biệt.
“Nhà nước Phổ (hình thành từ năm 1701) không phải là sản phẩm của một văn hóa phát triển hay là hệ quả của sự phát triển có tính lịch sử của một dân tộc. Bởi vì các khu vực trải dài và nằm cách xa nhau, nên đã dẫn tới sự khó khăn nhất định cho quá trình hình thành nhà nước một cách tự nhiên, tức là thiếu vắng sự tổ chức và sự tổng hợp các khu vực địa lý. Vì vậy, nhà nước Phổ rốt cuộc chỉ là sản phẩm của ý thức quyền lực của một số nhỏ quan chức cai trị. Trong các nhà nước phát triển tự nhiên thì nhà nước cố gắng thích ứng với các nhu cầu của xã hội.
Còn nước Phổ thì ngược lại do thiếu vắng các điều kiện cho sự hình thành nhà nước, nên nhà nước đã buộc phải tạo dựng xã hội theo các nhu cầu của nó. Và như vậy, đã xuất hiện một bộ máy cai trị khá hoàn hảo trong lịch sử mà khả năng tổ chức và bộ máy quyền lực vượt xa các nước láng giềng, mang lại sự thành công của mô hình nhà nước Phổ” [15, tr. Chính thực tế này cũng có ảnh hưởng không nhỏ tới tư tưởng của nhà 12 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com triết học Đức. Nó lí giải tại sao quan niệm về nhà nước của Hegel có một sự khác biệt rõ rệt so với những quan niệm của các nhà triết học tiền bối trước đó.
Chính tình hình kinh tế chính trị này đã ảnh hưởng tới thái độ chính trị của giai cấp tư sản Đức. Giai cấp tư sản Đức yếu kém không đủ sức mạnh và bản lĩnh để lật đổ chế độ phong kiến Phổ, không đủ khả năng để nắm chính quyền. Theo đó, trước một thực trạng xã hội rối ren, phức tạp và mâu thuẫn chồng chất, các nhà lý luận của giai cấp tư sản mang trong mình tâm trạng bi quan, bất mãn và bất lực. Đó chính là nguyên nhân dẫn đến việc phát sinh tư tưởng cải lương, thỏa hiệp, xuôi chiều; phủ nhận việc cải tạo xã hội cũ bằng bạo lực cách mạng, biện hộ cho sự tồn tại hợp lý của xã hội đương thời.
Không dám làm cách mạng bằng bạo lực trong hiện thực như các nhà tư tưởng Khai sáng Pháp, các nhà tư tưởng lý luận Đức quay về làm cách mạng trong lý luận trừu tượng, trong suy nghĩ. Điều này cũng không là ngoại lệ đối với hệ thống triết học Hegel. Bế tắc trước những vấn đề kinh tế - xã hội hiện thực, trước việc tự do bị bóp nghẹt bởi chính quyền quân chủ Phổ, các nhà triết học duy tâm Đức đã xây dựng bản thể luận triết học trong tư duy, ý thức của con người, đặc biệt đề cao tính năng động và tính duy lý của chủ thể. Họ lấy tư duy triết học làm vũ khí phê phán và chuyển tải tư tưởng cách mạng.
Đối với họ, triết học là nơi thể hiện khát vọng cải tạo hiện thực của con người.