phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, kết cấu của luận văn gồm có hai chương, sáu tiết. 9 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com NỘI DUNG CHƢƠNG 1: NHỮNG ĐIỀU KIỆN VÀ TIỀN ĐỀ CHO SỰ HÌNH THÀNH QUAN NIỆM VỀ PHẬT GIÁO ĐẦU THẾ KỶ XX (QUA MỘT SỐ NHÀ TƢ TƢỞNG TIÊU BIỂU) 1. Hoàn cảnh, lịch sử - xã hội cho sự hình thành quan niệm về Phật giáo đầu thế kỷ XX 1. Điều kiện lịch sử - xã hội thế giới và khu vực cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX Cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX, thế giới có nhiều chuyển biến to lớn chuẩn bị cho một bước ngoặt trong tiến trình phát triển của nhân loại, đó là: Chủ nghĩa tư bản từ giai đoạn tự do cạnh tranh chuyển sang giai đoạn độc quyền – chủ nghĩa đế quốc, mở rộng thị trường, xâm lược các nước khu vực châu Á, châu Phi và Mỹ la tinh; công cuộc duy tân của Nhật Bản, cuộc vận động cải cách ở Trung Quốc dẫn đến cách mạng Tân Hợi năm (1911)… Đến cuối thế kỷ XIX, chủ nghĩa tư bản phương Tây đã phát triển mạnh mẽ chuyển từ chủ nghĩa tư bản tự do cạnh tranh sang chủ nghĩa đế quốc.
Sự phát triển mạnh mẽ của nền kinh tế tư bản chủ nghĩa ở các nước tư bản phát triển đã làm tăng thêm nhu cầu tìm kiếm thuộc địa để cung cấp nguyên liệu và thị trường tiêu thụ hàng hóa. Để mở rộng thị trường chủ nghĩa tư bản đã tiến hành xâm lược các nước phương Đông, do đó tạo nên sự biến đổi to lớn tác động trực tiếp đến đời sống xã hội mọi mặt của Việt Nam và khu vực. Về kinh tế, chủ nghĩa tư bản tạo ra lực lượng sản xuất lớn, làm cho diện mạo của đời sống xã hội phương Tây và thế giới thay đổi. Do sự phát triển không đồng đều của chủ nghĩa tư bản đã dẫn đến cuộc khủng hoảng kinh tế những năm 1900 – 1903 , sau đó là cuộc chiến tranh thế giới lần thứ nhất, tiếp đến cuộc khủng hoảng kinh tế 1929-1930.
Chính thực trạng đó đã đòi hỏi các nước tư bản phải mở rộng thị trường bằng cách xâm lược và áp bức các dân tộc phương Đông, trong đó có Việt Nam ngày một ngặt nghèo. 10 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Về chính trị tại chính quốc vào năm 1789, giai cấp tư sản Pháp thực hiện cuộc cách mạng xã hội triệt để lật đổ chế độ phong kiến, thiết lập chế độ tư bản chủ nghĩa. Từ đây tạo nên bước chuyển từ chế độ quân chủ sang dân chủ, từ quân quyền sang pháp quyền. Nhờ đó, đã tạo ra sự phát triển nhanh chóng của giai cấp công nhân, đặc biệt ở các nước Anh, Pháp, Đức, Mỹ, Nga.
Đội ngũ công nhân ở các nước này tăng lên hàng triệu người, trở thành lực lượng xã hội rất quan trọng. Trong xã hội tư bản chủ nghĩa, mâu thuẫn cơ bản nhất là giữa tư sản và vô sản. Sau thất bại của Công xã Pari (năm 1871) phong trào công nhân tiếp tục được củng cố, tập hợp lực lượng và được sự dẫn dắt bởi chủ nghĩa Mác. Sự phát triển mạnh mẽ của chủ nghĩa Mác, giúp phong trào công nhân ngày càng phát triển mạnh mẽ.
Nhiều tổ chức Đảng Vô sản, Đảng Xã hội theo xu hướng tiến bộ cách mạng ra đời, nhằm tổ chức và lãnh đạo phong trào công nhân chống lại chủ nghĩa tư bản. Cho nên, khi các nước tư bản mở rộng xâm lược các nước phương Đông, trong đó có Việt Nam, thì cùng với sự su nhập của nền kinh tế tư bản chủ nghĩa tiếp theo những năm 20 của thế kỷ XX là sự du nhập các trào lưu tư tưởng dân chủ tư sản và vô sản vào nước ta tạo ra sự chuyển biến hệ tư tưởng từ hệ tư tưởng truyền thống có tính chất chế độ quân chủ sang hệ tư tưởng có tính chất Dân chủ tư sản, xây dựng đường lối cứu nước theo hướng Dân chủ tư sản, tiếp theo các nhà lãnh đạo phong trào yêu nước như Phan Bội Châu, Phan Châu Trinh, Huỳnh Thúc Kháng, Nguyễn An Ninh sẽ bước đầu tiếp cận với tư tưởng Mácxít. Về văn hóa, khoa học, kỹ thuật, giai đoạn này là thời kỳ Tây Âu nở rộ nhiều thành tựu khoa học kỹ thuật, ở các nước tư bản phát triển, tạo điều kiện cho con người nâng cao nhận thức duy lý, khoa học của con người, nâng cao kiến thức hiểu biết về tự nhiên xã hội sâu sắc hơn, làm suy giảm vai trò của tôn giáo. Song, sự trớ trêu là do nhu cầu truyền đạo mà các đoàn truyền giáo đã cấu kết với đoàn quân thực dân.
Các cuộc xâm chiếm thuộc địa, tìm kiếm thị 11 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com trường châu Á đã đi cùng với việc truyền giáo được các nước Anh, Pháp, Tây Ban Nha và Bồ Đào Nha tiến hành từ thế kỷ XVII, nhưng phải đến thế kỷ XIX mới thực sự trở nên gay gắt. Đến cuối thế kỷ XIX, hầu hết các nước châu Á đều tự biến thành các nước thuộc địa và phụ thuộc vào chủ nghĩa đế quốc phương Tây. Duy chỉ có Nhật Bản là một nước châu Á thoát khỏi số phận là nước thuộc địa, do Nhật Bản đã thực hiện thành công cuộc cải cách Minh Trị năm 1868. Cho nên Nhật đã giữ vững được độc lập dân tộc, đưa đất nước phát triển theo hướng tư bản chủ nghĩa, và trở thành đế quốc Châu Á trẻ đánh bại Nga, và đã chiếm Triều Tiên, Lưu Cầu và xâm lược Trung Quốc.
Ở Trung Quốc đến cuối thế kỷ XIX tuy có những nỗ lực duy tân nhưng vẫn còn là một nước phong kiến với chế độ quân chủ, có nhiều nét giống Việt Nam. Giai đoạn này Trung Quốc đứng trước nguy cơ bị thực dân xâm lược; các lãnh địa của Anh, Pháp, Mỹ, Nhật Bản mọc lên ở Trung Quốc. Từ năm (1839- 1842), Anh mở cuộc chiến tranh tấn công Trung Quốc buộc triều đình Mãn Thanh phải ký hòa ước Nam Kinh (29 – 8 – 1842) gồm bốn nội dung chính chấp nhận mọi điều kiện do thực dân Anh đưa ra. Bên cạnh đó Anh xâm chiếm Ba Tư, xâm chiếm Malayxia, Myanma, biến toàn bộ Ấn Độ thành thuộc địa, thế lực của Anh ở châu Á vô cùng to lớn, đã nhiều lần o ép Thái Lan.
Theo sau đế quốc Anh, Mỹ buộc Trung Quốc ký hiệp ước Vọng Hạ (7 – 1884) với mục đích chia sẻ thị trường tiêu thụ. Đế quốc Pháp buộc Trung Quốc ký hiệp ước Hoàng Phố (10 – 1884), dành quyền tự do thương mại truyền đạo, để mở đường xâm lược Trung Quốc. Ngoài ra Trung Quốc còn buộc phải ký nhiều điều ước bất bình đẳng với các nước tư bản khác như Bỉ, Bồ Đào Nha, Thuỵ Điển… các hiệp ước đó đã đẩy Trung Quốc vào tình trạng phụ thuộc, không giữ được chủ quyền toàn vẹn. Tại khu vực Đông Nam Á, Inđônêxia từ thế kỷ XVI đã bị Hà Lan thống trị, Philippin thì bị Mỹ và Tây Ban Nha xâu xé, Xiêm (Thái Lan) thì bị biến thành vùng đệm.
Còn khu vực Đông Dương gồm Việt Nam, Lào và Campuchia thì cuối thế kỷ XIX bị thực dân Pháp thôn tính. 12 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Trước xu thế bành trướng xâm lược của chủ nghĩa tư bản phương Tây, nhiệm vụ cấp bách nhất đối với các nước Châu Á là bằng mọi cách đấu tranh để bảo vệ độc lập dân tộc. Ngay từ đầu các nước châu Á đã sớm nhận ra âm mưu xâm lược của các nước xâm lược của các nước tư bản phương Tây thông qua hoạt động ráo riết của các nhà buôn và các phái đoàn truyền giáo. Song triều đình phong kiến bảo thủ, phương thức duy nhất để chống lại nguy cơ bị thôn tính ở các nước Châu Á lúc này đều là kiên quyết thi hành chính sách “bế quan tỏa cảng”, hòng ngăn chặn sự xâm lược của phương Tây.
Tuy nhiên, trước thời cuộc mới đó đây chỉ là biện pháp thụ động và lạc hậu. Thực tế giải pháp này không đem lại kết cục tích cực, tốt đẹp. Mà chống lại sự xâm lược của các nước tư bản phương Tây thì con đường tự cường canh tân, canh tân để tự cường là hợp lý. Ngay từ những năm 60 của thế kỷ XIX ở Trung Quốc đã xuất hiện phong trào “Dương Vụ Vận Động” do một số ít quan lại trong triều đình Mãn Thanh khởi xướng với nội dung chủ yếu là vận động học tập phương Tây nêu khẩu hiệu tự cường nhưng không được triều đình hưởng ứng.
Tiếp đó phong trào Mậu Tuất duy tân 1898 nổ ra với những đại biểu kiệt xuất như Khang Hữu Vi, Lương Khải Siêu, Đàm Tự Đồng… mở đường cho canh tân mọi mặt nhất là chủ trương kinh tế phát triển chống lại sự bảo thủ, lạc hậu của triều đình Mãn Thanh, chống lại sự can thiệp ngày càng sâu sắc của các nước phương Tây, đỉnh cao của phong trào này là cuộc chính biến Mậu Tuất (1898) do phái cấp tiến chủ trương được vua Quang Tự ủng hộ, cuộc chính biến này chỉ kéo dài được 103 ngày thì thất bại. Đến cuối thế kỷ XIX, Trung Quốc bị các nước đế quốc xâu xé tàn phá nặng nề. Năm 1901, triều đình Mãn Thanh ký hiệp ước Thiên Tân với 8 nước phương Tây, từ đây Trung Quốc chính thức trở thành một nước thuộc địa nửa phong kiến. Chủ nghĩa đế quốc còn sử dụng tấm màn che là sự truyền giáo để tiến hành các cuộc chiến trang xâm lược các quốc gia các dân tộc phương Đông nhỏ yếu, biến các quốc gia, dân tộc đó thành thuộc địa và thực hiện đàn áp, 13 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com bóc lột hết sức tàn bạo.
Điều đó đặt ra cho các dân tộc, các quốc gia phương Đông vấn đề hàng đầu là tiến hành đấu tranh giải phóng dân tộc và ý thức về sự bảo vệ các tín ngưỡng, tôn giáo truyền thống lâu đời. Kháng chiến chống xâm lược của chủ nghĩa thực dân đã làm cho các dân tộc, các quốc gia bị xâm lược đứng trước những vấn đề hết sức mới mẻ, trong đó có vấn đề nhận thức về tôn giáo trong đó có nhận thức về Phật giáo. Đặc biệt là sự tác động rất lớn đến tư tưởng hệ nói chung và tư tưởng về Phật giáo nói riêng. Ngay ở Trung Quốc, Nhật Bản, Việt Nam, Thái Lan, khi xuất hiện nguy cơ bị chủ nghĩa đế quốc xâm lược, các nước phong kiến phương Đông hết sức lúng túng trước những vấn đề sống còn của quốc gia, hết sức lung túng vấn đề giữ gìn bản sắc văn hóa, tôn giáo.