Quan niệm của người khuyết tật tại thành phố Hồ Chí Minh về tình yêu và hôn nhân

Tài liệu nghiên cứu Quan niệm của người khuyết tật tại thành phố hồ chí minh về tình yêu hôn nhân gia đình công trình, tổng hợp lý thuyết và thực hành, cung cấp kiến thức chuyên

Trường đại học

Đại Học Quốc Gia TP.HCM

Chuyên ngành

Xã Hội Học

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Công Trình Nghiên Cứu Khoa Học

2008

397
3
0

Phí lưu trữ

75 Point

Mục lục chi tiết

TÓM TẮT CÔNG TRÌNH

PHẦN MỞ ĐẦU

0.1. Lý do nghiên cứu của đề tài

0.2. Tình hình nghiên cứu đề tài

0.2.1. Tình hình nghiên cứu ngoài nước

0.2.2. Tình hình nghiên cứu trong nước

0.2.2.1. Người khuyết tật
0.2.2.2. Về hôn nhân – gia đình

0.3. Mục tiêu nghiên cứu

0.3.1. Mục tiêu chung

0.3.2. Mục tiêu cụ thể

0.4. Nội dung nghiên cứu

0.5. Giả thuyết nghiên cứu

0.6. Giới hạn của đề tài

0.7. Đóng góp mới của đề tài

0.8. Ý nghĩa thực tiễn

0.9. Kết cấu của đề tài

1. CHƯƠNG 1: CƠ SỞ PHƯƠNG PHÁP LUẬN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

1.1. Các lý thuyết và khái niệm liên quan

1.1.1. Những cách tiếp cận và lý thuyết nghiên cứu

1.1.1.1. Lý thuyết tương tác biểu tượng
1.1.1.2. Lý thuyết cấu trúc chức năng
1.1.1.3. Lý thuyết về sự bất bình đẳng xã hội

1.1.2. Những khái niệm liên quan

1.1.2.1. Hôn nhân – gia đình
1.1.2.2. Các khái niệm liên quan đến NKT

1.2. Phương pháp nghiên cứu

1.2.1. Phương pháp nghiên cứu

1.2.2. Phương pháp thu thập thông tin

1.2.3. Đối tượng thu thập thông tin và phạm vi nghiên cứu

1.3. Sơ lược tình hình người khuyết tật tại VIỆT NAM

1.3.1. Hiện trạng người khuyết tật Việt Nam

1.3.2. Nguyên nhân và hậu quả của tàn tật

2. CHƯƠNG 2: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU THỰC NGHIỆM VỀ QUAN NIỆM CỦA NGƯỜI KHUYẾT TẬT TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH VỀ TÌNH YÊU, HÔN NHÂN VÀ GIA ĐÌNH

2.1. Quan niệm của người khuyết tật về tình yêu

2.1.1. Quan niệm về tình yêu

2.1.2. Quan niệm trong vấn đề tìm người yêu

2.1.3. Tính bền vững trong tình yêu

2.1.4. Quan niệm về bạn tình và bạn đời

2.1.5. Quan niệm về nơi làm quen

2.1.5.1. Nơi gặp gỡ đầu tiên
2.1.5.2. Hoàn cảnh gặp gỡ

2.1.6. Quan niệm về nơi hẹn hò

2.2. Quan niệm của người khuyết tật về hôn nhân – gia đình

2.2.1. Quan niệm của người khuyết tật về hôn nhân

2.2.1.1. Quan niệm về hôn nhân
2.2.1.2. Thời gian làm quen
2.2.1.3. Tiêu chí chọn bạn đời
2.2.1.4. Người chồng tương lai
2.2.1.5. Người vợ tương lai
2.2.1.6. Tuổi kết hôn lý tưởng
2.2.1.7. Quyền quyết định kết hôn
2.2.1.7.1. Người quyết định chính
2.2.1.7.2. Sự can thiệp của gia đình trong việc quyết định hôn nhân
2.2.1.7.3. Sự can thiệp của họ hàng
2.2.1.8. Khó khăn sau hôn nhân

2.2.2. Quan niệm của người khuyết tật về gia đình

2.2.2.1. Nơi ở của gia đình sau kết hôn
2.2.2.2. Quan niệm về số con
2.2.2.3. Thời điểm sinh con
2.2.2.4. Quan niệm về vai trò giới trong gia đình
2.2.2.4.1. Vai trò lao động tái sản xuất
2.2.2.4.2. Giáo dục con cái
2.2.2.4.3. Phân công công việc trong gia đình
2.2.2.4.4. Vai trò lao động sản xuất
2.2.2.4.5. Vai trò cộng đồng
2.2.2.5. Quyền quyết định trong gia đình
2.2.2.6. Quan hệ tình cảm gia đình
2.2.2.7. Ứng xử của cha mẹ hai bên

PHẦN KẾT LUẬN

0.1. Khuyến nghị

TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC

P.1. Các biên bảng phỏng vấn sâu (đính kèm)

Tóm tắt

I. Tổng quan về quan niệm tình yêu và hôn nhân của người khuyết tật tại TP

Tình yêu và hôn nhân là những khía cạnh quan trọng trong cuộc sống của mỗi cá nhân, bao gồm cả người khuyết tật. Tại TP.HCM, quan niệm về tình yêu và hôn nhân của người khuyết tật thường bị ảnh hưởng bởi nhiều yếu tố xã hội, văn hóa và tâm lý. Nghiên cứu này nhằm làm rõ những quan niệm này, từ đó giúp nâng cao nhận thức và tạo điều kiện cho người khuyết tật trong việc xây dựng hạnh phúc gia đình.

1.1. Định nghĩa và vai trò của tình yêu trong cuộc sống người khuyết tật

Tình yêu không chỉ là cảm xúc mà còn là nhu cầu thiết yếu của con người, bao gồm cả người khuyết tật. Đối với họ, tình yêu mang lại hy vọng và động lực để vượt qua khó khăn trong cuộc sống.

1.2. Hôn nhân và gia đình trong quan niệm của người khuyết tật

Hôn nhân đối với người khuyết tật không chỉ là sự kết hợp giữa hai cá nhân mà còn là sự chấp nhận từ xã hội. Gia đình là nơi họ tìm kiếm sự hỗ trợ và yêu thương, nhưng cũng là nơi họ phải đối mặt với nhiều thách thức.

II. Những thách thức trong tình yêu và hôn nhân của người khuyết tật

Người khuyết tật thường gặp phải nhiều khó khăn trong việc tìm kiếm tình yêu và xây dựng hôn nhân. Những định kiến xã hội, sự thiếu thốn về cơ hội giao tiếp và sự hỗ trợ từ gia đình là những rào cản lớn. Nghiên cứu cho thấy rằng, mặc dù có khát vọng về tình yêu, nhưng nhiều người khuyết tật vẫn chọn sống độc thân.

2.1. Định kiến xã hội và ảnh hưởng đến quan niệm tình yêu

Định kiến xã hội về người khuyết tật thường dẫn đến sự phân biệt và kỳ thị, làm giảm cơ hội tìm kiếm tình yêu của họ. Những quan niệm sai lầm này cần được thay đổi để tạo ra một môi trường hòa nhập hơn.

2.2. Khó khăn trong việc tìm kiếm bạn đời

Nhiều người khuyết tật gặp khó khăn trong việc tìm kiếm bạn đời do thiếu cơ hội giao tiếp và sự hỗ trợ từ cộng đồng. Điều này dẫn đến việc họ cảm thấy cô đơn và thiếu tự tin trong mối quan hệ.

III. Phương pháp nghiên cứu về quan niệm tình yêu và hôn nhân

Nghiên cứu này sử dụng phương pháp định tính để thu thập thông tin từ người khuyết tật tại TP.HCM. Qua phỏng vấn sâu, nghiên cứu đã thu thập được những quan điểm và trải nghiệm thực tế của họ về tình yêu và hôn nhân.

3.1. Phương pháp thu thập dữ liệu

Dữ liệu được thu thập thông qua phỏng vấn sâu với người khuyết tật. Phương pháp này cho phép hiểu rõ hơn về quan niệm và cảm xúc của họ đối với tình yêu và hôn nhân.

3.2. Đối tượng nghiên cứu và phạm vi

Đối tượng nghiên cứu bao gồm người khuyết tật ở ba dạng tật: khiếm thính, khiếm thị và khuyết tật vận động. Phạm vi nghiên cứu tập trung vào TP.HCM để phản ánh thực trạng tại khu vực đô thị.

IV. Kết quả nghiên cứu về quan niệm tình yêu và hôn nhân

Kết quả nghiên cứu cho thấy rằng người khuyết tật có những quan niệm đa dạng về tình yêu và hôn nhân. Họ mong muốn có một mái ấm gia đình nhưng thường gặp phải nhiều rào cản trong việc thực hiện điều này.

4.1. Quan niệm về tình yêu và bạn đời lý tưởng

Nhiều người khuyết tật có quan niệm rõ ràng về người bạn đời lý tưởng, thường dựa trên sự đồng cảm và chia sẻ. Họ tìm kiếm những mối quan hệ chân thành và bền vững.

4.2. Những khó khăn trong hôn nhân và gia đình

Sau khi kết hôn, người khuyết tật thường phải đối mặt với nhiều khó khăn, từ việc chăm sóc con cái đến việc duy trì mối quan hệ. Những thách thức này cần được xã hội và gia đình hỗ trợ.

V. Kết luận và khuyến nghị cho tương lai

Nghiên cứu này đã chỉ ra rằng người khuyết tật có những quan niệm phong phú về tình yêu và hôn nhân, nhưng họ cũng phải đối mặt với nhiều thách thức. Cần có những chính sách và chương trình hỗ trợ để giúp họ hòa nhập và xây dựng hạnh phúc gia đình.

5.1. Khuyến nghị cho chính sách hỗ trợ người khuyết tật

Cần có những chính sách hỗ trợ cụ thể nhằm tạo điều kiện cho người khuyết tật trong việc tìm kiếm tình yêu và xây dựng gia đình. Điều này bao gồm việc nâng cao nhận thức cộng đồng và tạo ra môi trường hòa nhập.

5.2. Tương lai của quan niệm tình yêu và hôn nhân

Tương lai của người khuyết tật trong tình yêu và hôn nhân sẽ phụ thuộc vào sự thay đổi trong nhận thức xã hội. Cần tiếp tục nghiên cứu và phát triển các chương trình hỗ trợ để cải thiện chất lượng cuộc sống của họ.

15/07/2025
Quan niệm của người khuyết tật tại thành phố hồ chí minh về tình yêu hôn nhân gia đình công trình dự thi giải thưởng sinh viên nghiên cứu khoa học năm 2008

Trích đoạn nội dung tài liệu

CHƯƠNG 1: CƠ SỞ PHƯƠNG PHÁP LUẬN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 1. CÁC LÝ THUYẾT VÀ KHÁI NIỆM LIÊN QUAN: 1. Những cách tiếp cận và lý thuyết nghiên cứu: 1. Lý thuyết tương tác biểu tượng: Tình yêu – hôn nhân – gia đình luôn là đề tài nổi bật của nhiều nhà nghiên cứu ở mọi thời đại.

Ở những lĩnh vực khác nhau thì có cách tiếp cận khác nhau, phương pháp nghiên cứu khác nhau, lý thuyết áp dụng khác nhau. Trong phạm vi đề tài này, chúng tôi chủ yếu áp dụng lý thuyết tương tác biểu tượng để luận giải cho vấn đề nghiên cứu của mình. Lý thuyết này được sử dụng để phân tích sự thích ứng về mặt hôn nhân, thanh niên nam nữ hẹn hò tìm hiểu nhau và lựa chọn vợ chồng. Nó quan tâm đến cách con người ta tác động qua lại với nhau mà nhân tố then chốt là giao tiếp.

Trong một mối quan hệ, không phải bao giờ mọi việc đều rõ ràng, và chúng ta cần làm rõ nó. Cách thức làm rõ là thông qua giao tiếp. Nhưng chúng ta giao tiếp với nhau bằng nhiều phương diện hơn là lời nói: ngữ điệu, cử chỉ, động tác…. Thuyết tương tác biểu trưng phản ánh sự vận hành hàng ngày của quan hệ con người, tương tác với nhau thông qua những giao tiếp và những biểu tượng.

Ngay từ những ngày xa xưa, quan niệm về tình yêu – hôn nhân – gia đình đã được ông cha ta đúc kết nên thành những câu ca dao ngọt ngào: "Chồng ta áo rách ta thương Chồng người áo gấm xông hương mặc người" Hoặc: "Thuyền về có nhớ bến chăng Bến thì một dạ khăng khăng đợi thuyền" Những câu ca nặng trĩu nỗi niềm, nặng trĩu thề nguyền đã được bao thế hệ người mẹ Việt hát ru con. Ảnh hưởng của Tam giáo hàng ngàn năm đã in dấu trong các tác phẩm văn học nghệ thuật của Việt Nam về sự đòi hỏi đức chung thuỷ và tính hi sinh của người phụ nữ trong tình yêu. Dường như trong văn học dân gian và cổ điển Việt Nam, sự chung thủy của tình yêu như là một thuộc tính bắt buộc đối với phái nữ. "Trai làm nên năm thê, bảy thiếp/Gái làm nên chỉ có một chồng" - quan niệm ấy phần nào được cởi bỏ trong những năm đầu của thế kỷ 20, cùng với sự xuất hiện của chiếc áo tân kỳ (áo dài hai vạt) là những câu chuyện tình yêu lãng mạn mang tính phá cách được nhen nhóm trong các tác phẩm của nhóm Tự Lực Văn Đoàn.

13 Cùng với những sự thay đổi lớn về nhân sinh quan, sau năm 1945 ở miền Bắc và năm 1975 ở miền Nam, phụ nữ hầu như được cởi trói hơn thế, được tôn vinh. Luật Hôn nhân gia đình của chế độ mới đã xoá bỏ cơ bản chế độ đa thê để chữ "chung thuỷ" không còn dành riêng cho phụ nữ. Nhưng có lẽ, do cách quan niệm thái quá về nghĩa của chữ "chung thuỷ" mà trong một thời gian dài, con người ta bị đóng khuôn lại trong những khuôn mẫu đôi khi mang tính áp đặt: Tình yêu là bất biến nên ly dị là một hiện tượng không bình thường, hôn nhân là sự sở hữu tuyệt đối. Vì sợ áp lực của dư luận, nhiều cặp vợ chồng đã rơi vào cảnh "đồng sàng dị mộng", có người còn coi việc thề thốt yêu đương với người bạn đời của mình như một nghĩa vụ bắt buộc mặc dù cả hai người đã đến tuổi "tri thiên mệnh".

Có lẽ không ai sẵn lòng ủng hộ việc phũ phàng chia tay người bạn đời khi người ta không còn xuân sắc, khi không gian tình cảm của hai người không còn sự hấp dẫn, thi vị như thuở mới ban đầu. Sẽ là không dễ chịu khi tuyệt đối hoá tình yêu theo quan niệm "đã là vợ chồng thì có nghĩa vụ phải yêu". Đã có hàng triệu triệu lời có cánh về tình yêu. Đã có hàng ngàn cách định nghĩa về tình yêu.

Đã có vô số những biểu tượng về tình yêu qua nhiều tác phẩm nghệ thuật (đặc biệt là văn học, sân khấu, điện ảnh) của các thời đại. Nhưng dường như người ta không tìm thấy câu trả lời chung cho một định nghĩa: "Thế nào là một tình yêu đẹp?" hay "Thế nào là người tình lý tưởng?". Ngay cả với mỗi người, khi 50 tuổi, ta sẽ yêu khác thuở 20 - lúc mới bước vào ngưỡng cửa của lâu đài bí ẩn, đầy ngọt ngào và cả đắng chát - TÌNH YÊU. Theo bạn thế nào là một tình yêu đẹp? Liệu có một mối tình vĩnh cửu trong cuộc đời này? Thành thật nói lời chia tay khi thấy không còn hạnh phúc hay chịu đựng để khỏi làm tổn thương người bạn đời là một cách ứng xử đúng? Bạn có tin rằng thực sự có một nửa đời mình trong vũ trụ bao la này hay tình yêu chỉ là sự cảm nhận cảm xúc hiện tại một cách đầy đủ nhất? Một câu chuyện tình đẹp trong đời mà bạn đã biết và thần tượng? Mẫu người tình lý tưởng của bạn như thế nào? Nhiều người hiện nay có thiên hướng cho rằng tình yêu là tình cảm tự nhiên và phổ biến của con người.

Thực ra, tình yêu không phải là một tình cảm mà hầu hết nhân loại đều nếm trải và không phải bao giờ cũng gắn với hôn nhân. Ở phương Tây, khái niệm tình yêu gắn với hôn nhân chỉ xuất hiện kể từ khoảng thế kỷ XVIII đến nay. Vào thời Trung Cổ, người phương Tây chủ yếu kết hôn để giữ địa vị, chức tước, tài sản. Sau khi kết hôn, người ta có thể nảy sinh tình cảm gắn bó, gần gũi với nhau.

Một số người ngoại tình và có với nhau một chút tình cảm mà người ta gọi đó là tình yêu. Tình yêu lãng mạn thường xuất hiện trong giới quý tộc và ngoài hôn nhân, đặc biệt là trong các vụ ngoại tình. Với cả người giàu lẫn kẻ nghèo, gia đình và họ hàng là người ra quyết định hôn nhân, đương sự chỉ có tiếng nói rất ít hoặc hoàn toàn không được tham gia vào quyết 14 định này. Mối quan hệ vợ chồng trong bối cảnh này cũng rất lạnh lùng, ít có hoặc không có sự quan tâm lẫn nhau.

Đối với người Việt Nam ta, họ thường không chọn người quá chênh lệnh so với họ về tài sản, địa vị xã hội, tuổi tác, nghề nghiệp…. Nói chung, khi lựa chọn bạn đời, được tự do lựa chọn nhưng họ phải đáp ứng những điều mà bố mẹ, họ hàng, bạn bè…kỳ vọng ở họ. Thế nhưng, họ lại không nhận ra rằng quá trình họ học và nhập tâm các kỳ vọng đã đặt ra đã giới hạn cho sự lựa chọn của họ. Chẳng hạn như nghề nghiệp, học vấn, tôn giáo….

Ngày nay, nam nữ thanh niên được tự do hẹn hò, tìm hiểu và lựa chọn bạn đời một cách tự do. Họ được trao cho quyền quyết định hôn nhân và có sự tham khảo ý kiến gia đình. Tuy nhiên, đó chỉ là sự tham khảo, đôi khi, gia đình không đồng ý hoặc kịch kiệt phản đối thì họ vẫn cưới nhau. Tất cả những điều đã nói ở trên là nói về vấn đề chung, không phân biệt của người khuyết tật hay không khuyết tật.

Riêng đối với người khuyết tật, thiết nghĩ họ cũng có những ước mơ về tình yêu – hôn nhân – gia đình. Họ cũng có những tiêu chí, những lựa chọn, cách lựa chọn… của riêng mình. Thế nhưng, kết hợp với kỳ vọng gia đình và những mặc cảm về sự khiếm khuyết của bản thân mà họ có những tiêu chí và cách lựa chọn bạn đời khác nhau tùy theo từng dạng tật. Tức là, họ tự xây dựng nên cho mình một khuôn mẫu hành vi mà họ cho là tốt, là phù hợp với mình và họ sẽ làm theo khuôn mẫu đó.

Chẳng hạn như một người khuyết tật vận động, do sự khó khăn trong vận động của mình mà họ sẽ có xu hướng chọn người bạn đời phải là người khỏe mạnh và có thể giúp đỡ họ trong khó khăn khi vận động. Thêm vào đó, họ vẫn phải có những tiêu chí khác như học vấn, nghề nghiệp….hoặc người khiếm thính, họ sẽ có xu hướng chọn bạn đời là người có cùng dạng tật với mình. Sau hôn nhân, những người khuyết tật sẽ có cách tổ chức gia đình khác sao cho phù hợp với tình trạng khuyết tật của mình. Thế nhưng, những chức năng, vai trò của gia đình cũng sẽ không khác gì so với các gia đình không khuyết tật.

Bên cạnh đó, đề tài này sẽ đi vào phân tích nhấn mạnh những sự khác nhau đó. Lý thuyết cấu trúc – chức năng: Trong lý thuyết cấu trúc chức năng sẽ hướng sự quan tâm đến một số chức năng quan trọng do gia đình thực hiện. Đáng chú ý là chức năng xã hội hóa cá nhân. Gia đình đóng vai trò quan trọng trong quá trình xã hội hóa nhân cách trẻ em.

Trong giai đoạn đầu đời, trẻ hoàn toàn phụ thuộc vào gia đình trong việc đáp ứng nhu cầu. Vì thế, gia đình là môi trường xã hội hóa đầu tiên của mọi con người. Mặc dù, gia đình không hoàn toàn quyết định đến sự phát triển của trẻ, nhưng trong khuôn khổ nhất định của gia đình sẽ định hình cho trẻ những nhận thức nền tảng để hình thành nhân cách, niềm tin, thái độ của cá nhân…thậm chí cả những thành kiến. Một đứa trẻ khuyết tật sẽ mặc cảm hoặc tự 15 tin trong cuộc sống sau này, phần lớn là do kết quả của môi trường gia đình.

Trẻ luôn học hỏi mọi thứ từ gia đình, đôi khi chỉ là một tình huống vô tình của bố mẹ. Chẳng hạn, một lời nói thương cảm của bố mẹ được thốt ra khi thấy một đứa trẻ khuyết tật ăn xin bên lề đường: “Tội nghiệp! Bị như vậy rồi thì còn biết làm gì nữa”. Lời nói ấy sẽ vô tình tạo ra cho trẻ một thành kiến về người khuyết tật rằng: “Người khuyết tật không có khả năng lao động, làm việc”. Người khiếm thính bị hạn chế về nghe nên các bậc cha mẹ có con khiếm thính thường bảo bọc và giáo dục trong môi trường khép kín là gia đình và hạn chế giao tiếp ngoài xã hội.

Vì vậy, môi trường xã hội hóa của người khiếm thính sẽ bị khuyết đi môi trường xã hội hóa trường học và xã hội. Do đó, người khiếm thính thiếu đi những kiến thức về các kỹ năng sống. Thương con, bảo vệ con nhưng đó sẽ là hành động vô tình của cha mẹ đem lại rào cản lớn cho con cái họ sau này khi hòa nhập vào cộng đồng xã hội. Điều này sẽ được chứng minh cụ thể hơn khi đi vào nghiên cứu quan niệm của người khuyết tật, nhất là quan niệm của người khiếm thính.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ