CHƯƠNG 1: CƠ SỞ PHƯƠNG PHÁP LUẬN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 1. CÁC LÝ THUYẾT VÀ KHÁI NIỆM LIÊN QUAN: 1. Những cách tiếp cận và lý thuyết nghiên cứu: 1. Lý thuyết tương tác biểu tượng: Tình yêu – hôn nhân – gia đình luôn là đề tài nổi bật của nhiều nhà nghiên cứu ở mọi thời đại.
Ở những lĩnh vực khác nhau thì có cách tiếp cận khác nhau, phương pháp nghiên cứu khác nhau, lý thuyết áp dụng khác nhau. Trong phạm vi đề tài này, chúng tôi chủ yếu áp dụng lý thuyết tương tác biểu tượng để luận giải cho vấn đề nghiên cứu của mình. Lý thuyết này được sử dụng để phân tích sự thích ứng về mặt hôn nhân, thanh niên nam nữ hẹn hò tìm hiểu nhau và lựa chọn vợ chồng. Nó quan tâm đến cách con người ta tác động qua lại với nhau mà nhân tố then chốt là giao tiếp.
Trong một mối quan hệ, không phải bao giờ mọi việc đều rõ ràng, và chúng ta cần làm rõ nó. Cách thức làm rõ là thông qua giao tiếp. Nhưng chúng ta giao tiếp với nhau bằng nhiều phương diện hơn là lời nói: ngữ điệu, cử chỉ, động tác…. Thuyết tương tác biểu trưng phản ánh sự vận hành hàng ngày của quan hệ con người, tương tác với nhau thông qua những giao tiếp và những biểu tượng.
Ngay từ những ngày xa xưa, quan niệm về tình yêu – hôn nhân – gia đình đã được ông cha ta đúc kết nên thành những câu ca dao ngọt ngào: "Chồng ta áo rách ta thương Chồng người áo gấm xông hương mặc người" Hoặc: "Thuyền về có nhớ bến chăng Bến thì một dạ khăng khăng đợi thuyền" Những câu ca nặng trĩu nỗi niềm, nặng trĩu thề nguyền đã được bao thế hệ người mẹ Việt hát ru con. Ảnh hưởng của Tam giáo hàng ngàn năm đã in dấu trong các tác phẩm văn học nghệ thuật của Việt Nam về sự đòi hỏi đức chung thuỷ và tính hi sinh của người phụ nữ trong tình yêu. Dường như trong văn học dân gian và cổ điển Việt Nam, sự chung thủy của tình yêu như là một thuộc tính bắt buộc đối với phái nữ. "Trai làm nên năm thê, bảy thiếp/Gái làm nên chỉ có một chồng" - quan niệm ấy phần nào được cởi bỏ trong những năm đầu của thế kỷ 20, cùng với sự xuất hiện của chiếc áo tân kỳ (áo dài hai vạt) là những câu chuyện tình yêu lãng mạn mang tính phá cách được nhen nhóm trong các tác phẩm của nhóm Tự Lực Văn Đoàn.
13 Cùng với những sự thay đổi lớn về nhân sinh quan, sau năm 1945 ở miền Bắc và năm 1975 ở miền Nam, phụ nữ hầu như được cởi trói hơn thế, được tôn vinh. Luật Hôn nhân gia đình của chế độ mới đã xoá bỏ cơ bản chế độ đa thê để chữ "chung thuỷ" không còn dành riêng cho phụ nữ. Nhưng có lẽ, do cách quan niệm thái quá về nghĩa của chữ "chung thuỷ" mà trong một thời gian dài, con người ta bị đóng khuôn lại trong những khuôn mẫu đôi khi mang tính áp đặt: Tình yêu là bất biến nên ly dị là một hiện tượng không bình thường, hôn nhân là sự sở hữu tuyệt đối. Vì sợ áp lực của dư luận, nhiều cặp vợ chồng đã rơi vào cảnh "đồng sàng dị mộng", có người còn coi việc thề thốt yêu đương với người bạn đời của mình như một nghĩa vụ bắt buộc mặc dù cả hai người đã đến tuổi "tri thiên mệnh".
Có lẽ không ai sẵn lòng ủng hộ việc phũ phàng chia tay người bạn đời khi người ta không còn xuân sắc, khi không gian tình cảm của hai người không còn sự hấp dẫn, thi vị như thuở mới ban đầu. Sẽ là không dễ chịu khi tuyệt đối hoá tình yêu theo quan niệm "đã là vợ chồng thì có nghĩa vụ phải yêu". Đã có hàng triệu triệu lời có cánh về tình yêu. Đã có hàng ngàn cách định nghĩa về tình yêu.
Đã có vô số những biểu tượng về tình yêu qua nhiều tác phẩm nghệ thuật (đặc biệt là văn học, sân khấu, điện ảnh) của các thời đại. Nhưng dường như người ta không tìm thấy câu trả lời chung cho một định nghĩa: "Thế nào là một tình yêu đẹp?" hay "Thế nào là người tình lý tưởng?". Ngay cả với mỗi người, khi 50 tuổi, ta sẽ yêu khác thuở 20 - lúc mới bước vào ngưỡng cửa của lâu đài bí ẩn, đầy ngọt ngào và cả đắng chát - TÌNH YÊU. Theo bạn thế nào là một tình yêu đẹp? Liệu có một mối tình vĩnh cửu trong cuộc đời này? Thành thật nói lời chia tay khi thấy không còn hạnh phúc hay chịu đựng để khỏi làm tổn thương người bạn đời là một cách ứng xử đúng? Bạn có tin rằng thực sự có một nửa đời mình trong vũ trụ bao la này hay tình yêu chỉ là sự cảm nhận cảm xúc hiện tại một cách đầy đủ nhất? Một câu chuyện tình đẹp trong đời mà bạn đã biết và thần tượng? Mẫu người tình lý tưởng của bạn như thế nào? Nhiều người hiện nay có thiên hướng cho rằng tình yêu là tình cảm tự nhiên và phổ biến của con người.
Thực ra, tình yêu không phải là một tình cảm mà hầu hết nhân loại đều nếm trải và không phải bao giờ cũng gắn với hôn nhân. Ở phương Tây, khái niệm tình yêu gắn với hôn nhân chỉ xuất hiện kể từ khoảng thế kỷ XVIII đến nay. Vào thời Trung Cổ, người phương Tây chủ yếu kết hôn để giữ địa vị, chức tước, tài sản. Sau khi kết hôn, người ta có thể nảy sinh tình cảm gắn bó, gần gũi với nhau.
Một số người ngoại tình và có với nhau một chút tình cảm mà người ta gọi đó là tình yêu. Tình yêu lãng mạn thường xuất hiện trong giới quý tộc và ngoài hôn nhân, đặc biệt là trong các vụ ngoại tình. Với cả người giàu lẫn kẻ nghèo, gia đình và họ hàng là người ra quyết định hôn nhân, đương sự chỉ có tiếng nói rất ít hoặc hoàn toàn không được tham gia vào quyết 14 định này. Mối quan hệ vợ chồng trong bối cảnh này cũng rất lạnh lùng, ít có hoặc không có sự quan tâm lẫn nhau.
Đối với người Việt Nam ta, họ thường không chọn người quá chênh lệnh so với họ về tài sản, địa vị xã hội, tuổi tác, nghề nghiệp…. Nói chung, khi lựa chọn bạn đời, được tự do lựa chọn nhưng họ phải đáp ứng những điều mà bố mẹ, họ hàng, bạn bè…kỳ vọng ở họ. Thế nhưng, họ lại không nhận ra rằng quá trình họ học và nhập tâm các kỳ vọng đã đặt ra đã giới hạn cho sự lựa chọn của họ. Chẳng hạn như nghề nghiệp, học vấn, tôn giáo….
Ngày nay, nam nữ thanh niên được tự do hẹn hò, tìm hiểu và lựa chọn bạn đời một cách tự do. Họ được trao cho quyền quyết định hôn nhân và có sự tham khảo ý kiến gia đình. Tuy nhiên, đó chỉ là sự tham khảo, đôi khi, gia đình không đồng ý hoặc kịch kiệt phản đối thì họ vẫn cưới nhau. Tất cả những điều đã nói ở trên là nói về vấn đề chung, không phân biệt của người khuyết tật hay không khuyết tật.
Riêng đối với người khuyết tật, thiết nghĩ họ cũng có những ước mơ về tình yêu – hôn nhân – gia đình. Họ cũng có những tiêu chí, những lựa chọn, cách lựa chọn… của riêng mình. Thế nhưng, kết hợp với kỳ vọng gia đình và những mặc cảm về sự khiếm khuyết của bản thân mà họ có những tiêu chí và cách lựa chọn bạn đời khác nhau tùy theo từng dạng tật. Tức là, họ tự xây dựng nên cho mình một khuôn mẫu hành vi mà họ cho là tốt, là phù hợp với mình và họ sẽ làm theo khuôn mẫu đó.
Chẳng hạn như một người khuyết tật vận động, do sự khó khăn trong vận động của mình mà họ sẽ có xu hướng chọn người bạn đời phải là người khỏe mạnh và có thể giúp đỡ họ trong khó khăn khi vận động. Thêm vào đó, họ vẫn phải có những tiêu chí khác như học vấn, nghề nghiệp….hoặc người khiếm thính, họ sẽ có xu hướng chọn bạn đời là người có cùng dạng tật với mình. Sau hôn nhân, những người khuyết tật sẽ có cách tổ chức gia đình khác sao cho phù hợp với tình trạng khuyết tật của mình. Thế nhưng, những chức năng, vai trò của gia đình cũng sẽ không khác gì so với các gia đình không khuyết tật.
Bên cạnh đó, đề tài này sẽ đi vào phân tích nhấn mạnh những sự khác nhau đó. Lý thuyết cấu trúc – chức năng: Trong lý thuyết cấu trúc chức năng sẽ hướng sự quan tâm đến một số chức năng quan trọng do gia đình thực hiện. Đáng chú ý là chức năng xã hội hóa cá nhân. Gia đình đóng vai trò quan trọng trong quá trình xã hội hóa nhân cách trẻ em.
Trong giai đoạn đầu đời, trẻ hoàn toàn phụ thuộc vào gia đình trong việc đáp ứng nhu cầu. Vì thế, gia đình là môi trường xã hội hóa đầu tiên của mọi con người. Mặc dù, gia đình không hoàn toàn quyết định đến sự phát triển của trẻ, nhưng trong khuôn khổ nhất định của gia đình sẽ định hình cho trẻ những nhận thức nền tảng để hình thành nhân cách, niềm tin, thái độ của cá nhân…thậm chí cả những thành kiến. Một đứa trẻ khuyết tật sẽ mặc cảm hoặc tự 15 tin trong cuộc sống sau này, phần lớn là do kết quả của môi trường gia đình.
Trẻ luôn học hỏi mọi thứ từ gia đình, đôi khi chỉ là một tình huống vô tình của bố mẹ. Chẳng hạn, một lời nói thương cảm của bố mẹ được thốt ra khi thấy một đứa trẻ khuyết tật ăn xin bên lề đường: “Tội nghiệp! Bị như vậy rồi thì còn biết làm gì nữa”. Lời nói ấy sẽ vô tình tạo ra cho trẻ một thành kiến về người khuyết tật rằng: “Người khuyết tật không có khả năng lao động, làm việc”. Người khiếm thính bị hạn chế về nghe nên các bậc cha mẹ có con khiếm thính thường bảo bọc và giáo dục trong môi trường khép kín là gia đình và hạn chế giao tiếp ngoài xã hội.
Vì vậy, môi trường xã hội hóa của người khiếm thính sẽ bị khuyết đi môi trường xã hội hóa trường học và xã hội. Do đó, người khiếm thính thiếu đi những kiến thức về các kỹ năng sống. Thương con, bảo vệ con nhưng đó sẽ là hành động vô tình của cha mẹ đem lại rào cản lớn cho con cái họ sau này khi hòa nhập vào cộng đồng xã hội. Điều này sẽ được chứng minh cụ thể hơn khi đi vào nghiên cứu quan niệm của người khuyết tật, nhất là quan niệm của người khiếm thính.