Chương 1. Cơ sở lý luận về quản lý xây dựng văn hóa nhà trường. Thực trạng quản lý xây dựng văn hóa nhà trường tại Trường Đại học Bình Dương. Biện pháp quản lý xây dựng văn hóa nhà trường tại Trường Đại học Bình Dương.
4 CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ XÂY DỰNG VĂN HÓA NHÀ TRƢỜNG TẠI TRƢỜNG ĐẠI HỌC 1. Tổng quan về vấn đề nghiên cứu 1. Những nghiên cứu ở nước ngoài Văn hóa nói chung và văn hoá nhà trường nói riêng là một trong những chủ đề hấp dẫn được các nhà nghiên cứu trên thế giới quan tâm khai thác ở những chiều cạnh khác nhau, tiêu biểu có những công trình nghiên cứu sau đây: Theo Deal, Terrence E (1993), Schein (2004) và Maslowski (2006) trong công trình nghiên cứu của mình đưa ra các quan điểm nghiên cứu về thuật ngữ “văn hoá nhà trường” (School Culture, 1980 -1990). Purkey và Smith (1982), Peterson (2002), nghiên cứu cấu trúc, kết cấu về văn hóa nhà trường.
Một số công trình nghiên cứu đề cập đến ảnh hưởng của văn hoá nhà trường tới tất cả các lĩnh vực trong nhà trường, bao gồm hoạt động giảng dạy, hiệu quả học tập của sinh viên và sự phát triển nghề nghiệp (Hamilton và Richardson, 1995). Bàn về cấu trúc văn hoá nhà trường, hầu hết các nhà nghiên cứu đều nhất trí với một trong hai mô hình cấu trúc: Thứ nhất, mô hình tảng băng (hai tầng bậc) được đưa ra bởi Frank Gonzales (1978). Theo đó, tương tự văn hóa tổ chức, văn hoá nhà trường giống như một tảng băng, có văn hóa biểu hiện ở bề mặt và văn hóa ở chiều sâu. Trong đó, bề mặt văn hóa là những thành tố vật chất dễ quan sát và dễ thay đổi.
Bề sâu của văn hóa là những yếu tố thuộc tinh thần như các giá trị, niềm tin và các ý nghĩ của con người mà chúng ta khó quan sát hoặc khó thay đổi. Thứ hai, mô hình cấu trúc ba tầng bậc do Edgar H. Schein (2004) đưa ra và được áp dụng vào văn hoá nhà trường. Theo mô hình này, văn hoá nhà trường bao gồm ba tầng bậc: (1) Các yếu tố hữu hình – có thể quan sát được; (2) Các giá trị được thể hiện, bao gồm niềm tin, thái độ, cách ứng xử; (3) Các giả thiết cơ bản – bao gồm các yếu tố liên quan đến môi trường xung quanh, thực tế của tổ chức, hoạt động và mối quan hệ giữa con người trong tổ chức.
Trong hai mô hình này, mô hình ba cấp độ của văn hoá nhà trường phản ánh chặt chẽ và đầy đủ hơn về cấu trúc văn hoá nhà trường. Trong đó, đặc biệt cần nhấn mạnh ở đây là các giả thiết cơ bản – tầng thứ ba trong cấu trúc văn hóa. Theo Schein, tầng giả định cơ bản bề sâu chính là các giả thiết ban đầu, được hỗ trợ bởi một linh cảm hay một giá trị nào đó, được sử dụng liên tục khi giải quyết một vấn đề, dần dần trở thành hiện thực. Tầng giả thiết cơ bản bề sâu này sẽ quyết định đến cách giải quyết, nhìn nhận, xem xét mọi vấn đề của tổ chức, nó chi phối việc lựa chọn phương án nào, giá trị nào.
Nó có mối quan hệ chặt chẽ, chi phối đến hai tầng còn lại là các yếu tố hữu hình và các giá trị được thể hiện. Guthrie và Colleen Hoy (2015), tương tự như những nỗ lực thay đổi trong các lĩnh vực khác, sự phát triển tổ chức trong lĩnh vực 5 giáo dục không xảy ra trong một môi trường riêng biệt. Thay vào đó, nó xảy ra trong những tổ chức có các quy tắc và giá trị, các giả định và kỳ vọng. Trong khi thường được sử dụng thay thế cho nhau, một số tác giả đã phân biệt các cấu trúc của “môi trường nhà trường” và “văn hoá nhà trường” trên cơ sở môi trường tổ chức được mô tả như các niềm tin và nhận thức mà cá nhân nắm giữ trong tổ chức, còn văn hóa được xem như các giá trị, niềm tin và kỳ vọng được chia sẻ, hình thành và phát triển từ các tương tác xã hội trong tổ chức.
Văn hoá nhà trường chính là “cách thức chúng ta thực hiện những công việc ở đó” - thể hiện ở dạng hữu hình và vô hình và được các thành viên của nhà trường chia sẻ, duy trì, các giá trị văn hoá nhà trường sẽ giúp định hướng các hành vi của các giảng viên, hiệu trưởng nhà trường. Tóm lại, tuy mỗi nghiên cứu có một cách nhìn nhận văn hóa nhà trường theo những cách khác nhau, nhưng tất cả những quan niệm này chỉ dừng lại ở việc phân tích các đặc điểm của văn hóa tổ chức trong nhà trường mà chưa đi sâu vào việc ứng dụng và thực nghiệm ở bất kỳ trường nào. Nói cách khác, mới dừng lại ở việc mô tả về VHNT mà chưa phân tích sâu vào bản chất, tiêu chí cụ thể của một VHNT, chưa thay đổi được hệ thống giá trị và quan điểm tồn tại trong VHNT. Những nghiên cứu ở trong nước Khi nói về “Văn hóa nhà trường” cũng thu hút rất nhiều sự quan tâm của các tác giả Việt Nam ở nhiều khía cạnh khác nhau.
Sau đây là một số nghiên cứu điển hình: Khái niệm văn hóa học đường theo tác giả Phạm Minh Hạc xuất hiện đầu những năm 1990. “Văn hóa học đường” là hệ các chuẩn mực, giá trị giúp những người quản lý, giảng viên, sinh viên, cha mẹ sinh viên có cách thức suy nghĩ, tình cảm và hành động tốt đẹp. Nội dung của văn hóa nhà trường gồm: Làm cho các thành viên hiểu được mục tiêu và giá trị của nhà trường; Chuẩn học các bộ môn; Làm cho người học cam kết có trách nhiệm học tập tốt; Xây dựng quan hệ hợp tác trong nhà trường; Tạo điều kiện để các nhà giáo và cán bộ bám sát thực tiễn, chia sẻ kinh nghiệm; Có ý thức rèn luyện nâng cao chuyên môn, đổi mới phương pháp giảng dạy. Trong công trình nghiên cứu này tác giả Phạm Minh Hạc cũng chỉ ra một số giá trị trong xây dựng văn hóa nhà trường.
Các giá trị này trở thành chuẩn mực, thước đo sự phấn đấu của người thầy, người học trong nhà trường. Tác giả có minh chứng hệ giá trị của ngành giáo dục Singapore, như sau: Tác giả Thái Duy Tuyên (2009), đã nói về văn hóa học đường theo tư tưởng của Hồ Chí Minh. Tác giả đã nêu ra khái niệm văn hóa như là cơ sở để xác định nội hàm của văn hóa nhà trường. Theo Thái Duy Tuyên văn hóa là những giá trị vật chất và tinh thần của nhân loại, hệ kinh nghiệm của lịch sử xã hội loài người đã được hệ thống hóa qua nhiều thế kỷ và có thể lưu truyền lại cho các thế hệ sau.
Văn hóa học đường là những giá trị, những kinh nghiệm lịch sử của xã hội loài người được tích lũy trong quá trình xây dựng hệ thống giáo dục quốc dân và quá trình thành nhân cách, biểu hiện qua các khía cạnh cụ thể sau: Hệ thống giá trị, niềm tin, hòai bão, lý tưởng mà thầy trò ấp ủ 6 và thực hiện. Tác giả Lê Hiển Dương (2009), cho rằng văn hóa nhà trường gồm các thành tố cơ bản sau: Yếu tố văn hóa mang giá trị hữu hình; Yếu tố văn hóa mạng giá trị định hướng trách nhiệm; Yếu tố văn hóa giá trị hạt nhân cốt lõi. Yếu tố hữu hình là vị trí địa lý, kiến trúc, cơ sở hạ tầng, công nghệ, phòng thí nghiệm, tác phẩm nghệ thuật, biểu tượng, trang phục. Yếu tố giá trị định hướng gồm: Chiến lược, mục tiêu, triết lý đào tạo được hình thành trong quá trình phát triển của nhà trường.
Yếu tố giá trị hạt nhân cốt lõi gồm: Các giá trị được thừa nhận và phổ biến, ổn định không thay đổi trong quá trình phát triển của nhà trường. Ba yếu tố này có mối quan hệ mật thiết với nhau, tạo ra một thể thống nhất hoàn chỉnh. Tác giả cũng chỉ ra trong bối cảnh toàn cầu hóa hiện nay việc xây dựng văn hóa nhà trường của chúng ta có những thuận lợi song cũng phải đối mặt với nhiều thách thức đòi hỏi nhà trường phải có tầm nhìn, chiến lược, phải biết thích ứng và luôn luôn cải tiến. Tác giả Huỳnh Thị Nhĩ (2009), cũng cho rằng văn hóa nhà trường từ một góc độ khác – góc độ ngôn ngữ trong dạy ngoại ngữ.
Tác giả đã chỉ ra mối quan hệ giữa văn hóa và ngôn ngữ. Ngôn ngữ là một phần của văn hóa. Những khác biệt văn hóa luôn gây khó khăn cho giao tiếp con người. Ngôn ngữ là sự kế thừa và phản ánh văn hóa, văn hóa là sự kế thừa và phản ánh xã hội.
Ngôn ngữ là thành tố chủ yếu của văn hóa, là phương tiện cơ bản và hữu hiệu nhất cho việc truyền tải văn hóa. Ở nước ta, quan điểm VHNT còn khá mới với các nhà nghiên cứu và các cán bộ làm công tác giáo dục (mặc dù mọi người đều công nhận để làm tăng tính hiệu quả trường học thì VHNT là một trong các tiêu chí không thể thiếu). Các nghiên cứu về xây dựng hay phát triển VHNT cũng chỉ là những cách tiếp cận theo một quan điểm của một tác giả. Xây dựng và phát triển VHNT chưa thực sự trở thành một nhiệm vụ quan trọng của nhà quản lý ở trường học.
Nếu có những nghiên cứu sâu hơn về xây dựng và phát triển VHNT đặc biệt làm rõ vai trò, các nội dung xây dựng VHNT sẽ giúp cán bộ quản lý nhà trường thực hiện hiệu quả hơn vai trò của mình. Mọi người đều thấy rằng, VHNT không chỉ là hệ thống những giá trị, là niềm tin, là thói quen, là cách ứng xử của các thành viên trong nhà trường mà VHNT còn thể hiện trong việc xây dựng cơ sở vật chất, cảnh quan môi trường. Văn hóa nhà trường không chỉ thể hiện trong việc xây dựng các nội quy quy tắc ứng xử giữa các thành viên trong nhà trường mà còn là ứng xử giữa nhà trường với xã hội với cộng đồng. Văn hóa nhà trường thể hiện trong chất lượng dạy học và sự trưởng thành, thành công của sinh viên…Tất cả các vấn đề đó tạo nên một ngôi trường khang trang hiện đại, các thành viên giỏi chuyên môn giàu lòng nhân ái, tin tưởng, tự giác và khát khao cống hiến.
Dựa trên các nghiên cứu về VHNT, xây dựng VHNT và nhận định của bản thân trong quá trình công tác, tác giả sẽ làm rõ xây dựng VHNT tại Trường Đại học Bình Dương. Từ đó, đưa ra được những đặc trưng VHNT nhằm hướng tới sự phát triển ổn định và bền vững trong nhà trường. Các khái niệm chính của đề tài 1.