CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ PHÁT TRIỂN VĂN HÓA NHÀ TRƯỜNG TẠI TRƯỜNG ĐẠI HỌC 1. Tổng quan nghiên cứu vấn đề Văn hóa là một phạm trù có tính chất rộng lớn và phức tạp, có vị trí, vai trò vô cùng quan trọng đối với toàn bộ hoạt động của các tổ chức cũng như đối với mỗi nhà trường. Vì vậy, VHNT và quản lý phát triển VHNT đã được đề cập ở rất nhiều công trình của các nhà nghiên cứu trong và ngoài nước. Nghiên cứu về tổ chức và văn hóa tổ chức trong nhà trường là một trong các khuynh hướng nghiên cứu chủ đạo của trường phái Anh - Mỹ; tiêu biểu có các nhà nghiên cứu như: Peters & Waterman (1982), Schein (1997), Seihl (1985)… Theo Peters & Waterman, trào lưu nghiên cứu văn hóa tổ chức trong kiến tạo VHNT trước đây (thập niên 1960) được diễn giải theo hướng văn hóa tổ chức [36], đến thập niên 1970 thì được đánh giá theo hướng văn hóa doanh nghiệp (Hofstede & Hofstede, 2005: 282) [34].
Cả hai khuynh hướng này bổ trợ nhau, làm nền tảng cho việc xây dựng lý luận VHNT. Ở Anh, tác giả Seihl (1985) nhấn mạnh văn hóa tổ chức (vốn là một sản phẩm kinh nghiệm của các nhóm xã hội) là yếu tố tạo nên cái gọi là “chất keo xã hội” để gắn kết nhà quản lý, thầy và trò, gắn kết trường học với tư cách là cái tổng thể với từng đơn vị bộ phận với nhau [39]. Tương tự như vậy, tác giả Schein (1997) đặc biệt chú ý tới vai trò của tính đồng nhất và ổn định trong đơn vị trường học, trong đó nhấn mạnh đến tính phân tầng tổ chức trong trường học, tính đa chiều - đa diện của từng nhóm tiểu văn hóa và sự đòi hỏi thời gian, sự bền bỉ của lãnh đạo nhà trường, sự nhạy bén của lực lượng giảng viên đầu ngành trong xây dựng văn hóa nhà trường [38]. Ở Việt Nam, tác giả Nguyễn Vũ Bích Hiền từng nhận định rằng xây dựng văn hóa tổ chức là hướng đến sự thống nhất về nhận thức (hoặc ý thức) giữa các thành viên và phát triển năng lực hành động (hành vi) thống nhất cho 7 họ khi hành động.
Nói cách khác, xây dựng văn hóa tổ chức là xây dựng sự đồng thuận về một hệ thống các giá trị triết lý hành động và phương pháp ra quyết định đặc trưng cho phong cách của tổ chức và cần được tuân thủ nghiêm túc (Hoàng Quốc Đạt, 2018) [7]. Trong Giáo trình “Cơ sở văn hóa Việt Nam”, nhà nghiên cứu Trần Ngọc Thêm đã đề cập đến vấn đề văn hóa tổ chức đời sống, văn hóa ứng xử, vấn đề giáo dục sinh viên giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc [20]. Đồng thời Tác giả nhấn mạnh vai trò cũng như tác động của sinh viên trong việc giữ gìn và phát huy bản sắc dân tộc. Tác giả công trình phản ánh chi tiết về tổ chức đời sống tập thể, tổ chức đời sống cá nhân.
Đây cũng là cơ sở để xây dựng văn hóa nhà trường. Nhà nghiên cứu Đỗ Huy, với công trình “Xây dựng môi trường văn hóa ở nước ta hiện nay từ góc nhìn giá trị học” (2001), đã trình bày một số khái niệm cơ bản, phân tích về môi trường văn hóa cũng như cách tiếp cận trong giai đoạn hiện nay [13]. Tác giả chủ yếu hướng đến một số phương diện về giá trị, cái hay, cái tốt và cái thẩm mỹ. Đây là những nội dung cơ bản cần thiết được triển khai trong hệ thống nhà trường nhằm nâng cao nhận thức của người dạy, người học và người quản lý về tính thẩm mỹ, tính nhân văn trong môi trường sư phạm.
Như vậy, có thể thấy văn hóa nhà trường là một vấn đề thu hút sự quan tâm của rất nhiều nhà nghiên cứu. Vì vậy, trên cơ sở kế thừa những thành tựu trên, việc tiếp tục tìm hiểu, nghiên cứu và đề xuất những biện pháp quản lý phát triển văn hóa nhà trường đối với các trường đại học sẽ giúp nhà quản lý giáo dục xây dựng, phát triển môi trường giáo dục lành mạnh và nâng cao chất lượng, hiệu quả các hoạt động của nhà trường, nhất là trong giai đoạn hiện nay. Khái niệm chính của đề án 1. Văn hóa Khái niệm văn hóa có nội hàm phong phú và ngoại diên rất rộng.
Có rất nhiều định nghĩa khác nhau về văn hóa, mỗi định nghĩa đều phản ánh một cách nhìn nhận và đánh giá khác nhau. Điều đó cho thấy sự phong phú, đa dạng của 8 văn hóa và sự chi phối, tác động của nó lên toàn bộ hoạt động cũng như mọi lĩnh vực của đời sống xã hội. Về thuật ngữ gốc, trong tiếng Hán cổ, “Văn” có nghĩa là đẹp; “Hóa” là thay đổi, biến hóa. Văn hóa có nghĩa là làm biến đổi một cái gì đó cho đẹp, đẹp hơn.
Ở đây, văn hóa là giáo hóa, giáo dục và cảm hóa cá nhân, xã hội theo cái đẹp. Trong ngôn ngữ phương Tây, văn hóa được bắt nguồn từ chữ Latinh "Cultus", mà nghĩa gốc là gieo trồng, được dùng theo nghĩa Cultus Agri là "gieo trồng ruộng đất" và Cultus Animi là "gieo trồng tinh thần" tức là "sự giáo dục bồi dưỡng tâm hồn con người", khái niệm rất đa nghĩa và được sử dụng rất thường xuyên trong ngôn ngữ hàng ngày và trong ngôn ngữ khoa học [10]. Tuy có sự khác nhau, nhưng điểm cốt lõi và giống nhau trong quan niệm của người phương Đông, phương Tây cổ đó là đều coi văn hóa không phải là một vật, một cái gì đó quan sát, cầm nắm được mà là một trạng thái, tính chất, tác động đến đời sống của mỗi cá nhân và của cả cộng đồng. Theo Đại từ điển tiếng Việt: "Văn hóa là những giá trị vật chất, tinh thần do con người sáng tạo ra trong lịch sử" [31].
Từ khái niệm này, có thể thấy rằng, tất cả mọi hiện tượng diễn ra trong đời sống của con người đều có liên quan đến văn hóa. Trong đó, văn hóa tồn tại hai phương diện: Văn hóa vật chất và văn hóa tinh thần. Văn hóa vật chất thể hiện thành các phạm trù cụ thể như ăn, mặc, ở, đi lại của con người. Văn hóa tinh thần biểu hiện thông qua tín ngưỡng, phong tục tập quán, các lĩnh vực nghệ thuật, giao tiếp, ứng xử… Các phương diện này xuất hiện trong hầu hết các tình huống đời sống của con người, trong các mối quan hệ gia đình, nhà trường và xã hội.
Khái niệm về văn hóa của UNESCO được cho là thuyết phục, được rất nhiều người thừa nhận, đó là: “Văn hóa là tập hợp các đặc trưng tiêu biểu về tinh thần, vật chất, tri thức và xúc cảm của xã hội hoặc một nhóm người trong xã hội; văn hóa không chỉ bao gồm văn học và nghệ thuật, mà còn cả phong cách sống, phương thức chung sống, các hệ giá trị, truyền thống và niềm tin” [30]. 9 Như vậy, có thể hiểu văn hóa là sản phẩm của loài người, được tạo ra, phát triển trong quan hệ qua lại giữa con người và xã hội, nhưng đồng thời văn hóa lại tham gia vào việc tạo nên con người, duy trì sự bền vững và trật tự xã hội. Văn hóa được truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác thông qua quá trình xã hội hóa và được tái tạo, phát triển trong quá trình hành động, tương tác xã hội của con người. Văn hóa nhà trường Hiện nay, các nghiên cứu về văn hóa nhà trường thường gắn liền với lý thuyết về văn hóa tổ chức.
Nhà trường là một loại hình tổ chức đặc thù mang tính chất hành chính - sư phạm; vì vậy, các nghiên cứu về quản lý nhà trường có thể kế thừa những thành tựu nghiên cứu về quản lý tổ chức để điều chỉnh và vận dụng một cách phù hợp. Tác giả Phạm Quang Huân cho rằng “nhà trường là một thế giới thu nhỏ với những cơ cấu, chuẩn mực, quy tắc hoạt động, những giá trị, điểm mạnh và điểm yếu riêng do những con người cụ thể thuộc mọi thế hệ tạo lập. Với tư cách là một tổ chức, mỗi nhà trường đều tồn tại, dù ít hay nhiều, một nền văn hóa nhất định” [12]. Nhà trường vừa là nơi bảo tồn và lưu truyền các giá trị văn hóa nhân loại, vừa là nơi đào tạo, rèn luyện những lớp người mới, chủ nhân gìn giữ và sáng tạo văn hóa cho tương lai.
Trong nhà trường, người dạy với người học cùng hoạt động để chiếm lĩnh các mục tiêu văn hóa, theo những cách thức văn hóa, dựa trên những phương tiện văn hóa, trong môi trường văn hóa đại diện cho mỗi vùng, miền, địa phương. Mỗi nhà trường đều mang một bầu không khí đặc trưng thông qua hàng loạt dấu hiệu hữu hình hoặc không hiện hữu, những giá trị này phản ánh hình ảnh, phong cách, đặc trưng văn hóa của nhà trường. Hình ảnh này được tạo ra bởi người dạy, người học, người quản lý trong nhà trường; một phần được chuyển tải qua các kênh khác nhau như không gian, cảnh quan, môi trường sư phạm - tất cả đều phản ánh chất lượng sản phẩm giáo dục của nhà trường một cách rõ nét và khách quan và đó được gọi là VHNT. Peterson và Terrence E.Deal: “văn hóa nhà trường là một dòng chảy ngầm của những chuẩn mực, giá trị, niềm tin, truyền thống và nghi lễ được hình thành theo thời gian do con người làm việc cùng nhau, giải quyết các vấn đề và đối mặt với các thách thức.
định hình suy nghĩ, cảm xúc và hành động của con người trong nhà trường. tạo cho nhà trường sự khác biệt”. Hai tác giả này cũng nhấn mạnh: “Trường học cũng là một nền văn hóa có cá tính độc đáo của riêng mình” [35]. Ở Việt Nam, văn hóa nhà trường cũng đã được các nhà nghiên cứu giáo dục coi là một yếu tố cơ bản của cơ chế phát triển đối với từng nhà trường cũng như của toàn hệ thống các trường học nói chung.
Trong một bài nghiên cứu, tác giả Nguyễn Hữu Thiệp quan niệm: VHNT là một tập hợp các chuẩn mực, các giá trị, niềm tin và hành vi ứng xử… đặc trưng của một trường học, tạo nên sự khác biệt với các tổ chức khác. VHNT liên quan đến toàn bộ đời sống vật chất, tinh thần của một nhà trường. Nó biểu hiện trước hết trong tầm nhìn, sứ mệnh, triết lý, mục tiêu, các giá trị, phong cách lãnh đạo, quản lý, bầu không khí tâm lý thể hiện thành hệ thống các chuẩn mực, các giá trị, niềm tin, quy tắc ứng xử… được xem là tốt đẹp và được mỗi người trong nhà trường chấp nhận [21].