Chương 1 CƠ SỞ LÍ LUẬN VỀ XÂY DỰNG VĂN HÓA NHÀ TRƯỜNG Ở TRƯỜNG TIỂU HỌC ĐÁP ỨNG CHƯƠNG TRÌNH GIÁO DỤC PHỔ THÔNG 2018 1. Tổng quan nghiên cứu vấn đề 1. Những nghiên cứu về văn hoá nhà trường “Văn hóa tổ chức” xuất hiện đầu tiên trên báo chí Mỹ vào khoảng thập niên 1960, hiện nay là một khái niệm thịnh hành và phổ biến rộng rãi. Thuật ngữ tương đương “Văn hóa công ty” (corporate culture) xuất hiện muộn hơn, khoảng thập niên 1970 và trở nên hết sức phổ biến khi tác phẩm “Văn hóa công ty” của Terrence Deal và Atlan Kennedy được xuất bản tại Mỹ năm 1982 [29].
VHNT có thể đã rất quan trọng đối với sự phát triển của các cộng đồng địa phương và quốc gia theo nghĩa rộng và sâu và bao trùm việc thiết lập nhận thức cộng đồng (Lieberman et al. Một nghiên cứu ở trường học Serbia điều tra ảnh hưởng của VHNT về dạy và học. Điều rất quan trọng là phải hiểu các MQH tồn tại giữa các khía cạnh của VHNT và quá trình giảng dạy, bởi vì VHNT có thể được thay đổi và cải thiện nếu tất cả các thành viên của trường nhận ra sự cần thiết phải thay đổi và làm việc cùng nhau để đạt được những cải tiến trong VHNT. Saphier cho rằng GV là những người định hình văn hóa.
Họ có xây dựng bộ câu hỏi kiểm tra VHNT, dựa trên 12 tiêu chí: tính tập thể; thí nghiệm; kỳ vọng cao; tin tưởng và tự tin; hỗ trợ hữu hình; đạt ra các cơ sở tri thức; đánh giá cao và công nhận; quan tâm; quyết định; bảo vệ những gì quan trọng; truyền thống và trung thực; giao tiếp cởi mở. Bảng câu hỏi khảo sát VHNT của tác giả Saphier và King (1985), được sửa đổi bởi Edwards, Green và Lyons (1996) tích hợp các tiêu chuẩn này theo ba khía cạnh: tính chuyên nghiệp của GV và thiết lập mục tiêu; QL chính quyền; cộng tác của GV. Schein, đề xuất VHNT gồm 2 thành tố: vật chất và tinh thần. Cấu trúc VHNT gồm: hữu hình, hệ thống giá trị được tuyên bố, quan niệm chung tạo nên VHNT như một tổng thể [32].
(2000), đã tìm hiểu về hiệu quả HĐ QL của Hiệu trưởng. Nghiên cứu cho thấy MQH giữa GV và Hiệu trưởng là một trong những thành tố quan trọng tạo nên VHNT [29]. 5 Edwards et al.,1996; Saphier & King, 1985 cũng đề xuất khảo sát VHNT được dùng như công cụ đo lường VH học đường. Các khảo sát gồm 24 mục, sử dụng thang đo Likert 5 mức độ (1 - hầu như không bao giờ; 2 - ít thường xuyên hơn không; 3 - khoảng một nửa thời gian; 4 - thường xuyên hơn không; và 5 - hầu như luôn luôn).
Các khía cạnh là: tính chuyên nghiệp của giáo viên và thiết lập mục tiêu (10 mục), QL chính quyền (8 mục) và sự cộng tác của GV (6 mục). Công cụ này đã được nhiều nhà nghiên cứu sử dụng (Meyer et al., 2009; Schermuly et al. Nghiên cứu của GS. Peter Smith trường Đại học Sunderlands, Anh quốc đã khẳng định VHNT có ảnh hưởng vô cùng to lớn đối với chất lượng cuộc sống và hiệu quả hoạt động của NT.
Theo Eller, John, and Sheila Eller (2009), VHNTgồm: tạo MQH; cải thiện các cuộc họp; giải quyết vấn đề liên quan đến hoạt động NT; phát triển các MQH cộng tác; xử lý xung đột thích hợp. Với nghiên cứu này, CBQL có thể tạo môi trường DH hợp tác [dẫn theo 10]. Nguyễn Trường Lưu (1998) trong Văn hóa đạo đức và tiến bộ xã hội nhấn mạnh, thông qua văn hoá nhà trường, giảng viên và sinh viên nhận thấy điểm mạnh và điểm yếu của chính mình, từ đó chủ thể xây dựng văn hóa sẽ điều chỉnh được bản thân, góp phần tạo nên giá trị văn hoá nhà trường [8]. Tác giả Phạm Hồng Quang (2006) trong cuốn sách “Môi trường giáo dục” đã đánh giá những tác động của môi trường văn hóa giáo dục, đến quá trình đào tạo đồng thời tác giả đã làm sáng tỏ các quy luật tác động của môi trường văn hóa giáo dục đến quá trình hình thành và phát triển nhân cách, do vậy, công trình nghiên cứu của ông đã xác định những vấn đề quan trọng có giá trị trong các công trình nghiên cứu tiếp theo về văn hóa sau này [3].
Nhóm tác giả Phạm Văn Khanh, Lê Ngọc Việt trong bài viết “Giải pháp xây dựng văn hóa nhà trường dưới góc độ của mô hình trường học thân thiện, học sinh tích cực” [2] lại phân tích mô hình văn hóa nhà trường dưới góc độ của mô hình trường học thân thiện, học sinh tích cực do Bộ Giáo dục và Đào tạo phát động được thể hiện ở ba yếu tố sau: - Xây dựng cảnh quan sư phạm: xây dựng trường, lớp xanh, sạch, đẹp và an toàn. 6 - Xây dựng môi trường sư phạm: xây dựng các điều kiện thuận lợi cho các hoạt động giáo dục, vui chơi, giải trí trong trường học mang tính giáo dục cao. - Xây dựng văn hóa giao tiếp sư phạm: xây dựng các chuẩn mực, thói quen trong giao tiếp ứng xử giữa các thành viên trong nhà trường, cộng đồng xã hội. Khi nghiên cứu về “Văn hóa tổ chức Đại học Quốc gia Hà Nội đáp ứng yêu cầu đổi mới và hội nhập”, tác giả Nguyễn Viết Lộc (2009) đã xem xét văn hoá nhà trường ở góc độ văn hoá tổ chức, tác giả cho rằng: “Đây là một tổ chức đặc thù gồm các tổ chức con với những khác biệt về văn hóa (các trường thành viên, đơn vị trực thuộc) tạo thành một tổ chức lớn”; ông khẳng định: “Văn hóa tổ chức có vai trò hết sức quan trọng trong việc tạo nên sự phát triển đột phá và bền vững cho tổ chức nhờ phát huy được nguồn lực nội sinh và tìm kiếm, dung nạp các nguồn lực ngoại sinh” [7, tr.
Những nghiên cứu về xây dựng văn hoá nhà trường ở trường phổ thông Trong công trình nghiên cứu “quản lý trường tiểu học theo tiếp cận quản lý dựa vào nhà trường” tác giả Vũ Thị Mai Hường đã xác định xây dựng VHNT cần có sự chia sẻ và tham dự là nội dung cơ bản của QL trường tiểu học [15]. Các tác giả Phạm Văn Khanh và Lê Ngọc Việt với “Giải pháp xây dựng văn hóa nhà trường dưới góc độ của mô hình trường học thân thiện, học sinh tích cực” [21] đưa ra mô hình VHNT gồm: “xây dựng cảnh quan, xây dựng môi trường sư phạm, xây dựng VHGT sư phạm”. Hoàng Quốc Đạt (2018), với công trình “Quản lý xây dựng văn hoá nhà trường THCS thành phố Hồ Chí Minh” đã đưa ra “1 số BP QL xây dựng VHNT ở các trường THCS thành phố Hồ Chí Minh: Nâng cao nhận thức, xây dựng kế thừa các giá trị VH tinh thần và vật chất, xây dựng tiêu chí VHNT THCS thành phố Hồ Chí Minh” [10]. Nguyễn Duy Phấn (2017) với đề tài luận án “Xây dựng tiêu chí văn hóa nhà trường trong các trường cao đẳng kỹ thuật công nghiệp”, đã nhấn mạnh đến tiêu chí VHNT khi hoàn thiện sẽ là công cụ có tính chuẩn mực để đánh giá VHNT trong các trường cao đẳng kỹ thuật công nghiệp một cách chính xác, khách quan.
Tiêu chí VHNT làm cơ sở cho việc định hướng, phát triển, giúp các nhà quản lý tìm ra được những điểm mạnh, điểm yếu từ đó hoàn thiện VHNT trong các trường cao đẳng kỹ thuật công nghiệp [22]. 7 Tác giả Nguyễn Thị La (2019) với nghiên cứu “Quản lý xây dựng văn hóa nhà trường tại Học viện Hành chính Quốc gia đã đề xuất một số giải pháp QL xây dựng VHNT góp phần nâng cao hiệu quả quản lý XDVHNT tại Học viện Hành chính Quốc gia trong giai đoạn hiện nay [16]. Qua các công trình nghiên cứu trên cho thấy, hầu hết các công trình đã đề cập đến vai trò của người QL, cấu trúc, bộ tiêu chí đánh VHNT, ảnh hưởng của VHNT, các biện pháp, cách thức xây dựng và QL xây dựng VHNT. Tuy nhiên nghiên cứu xây dựng VHNT ở các trường tiểu học đáp ứng yêu cầu CTGD PT 2018 ở thành phố Điện Biên Phủ, tỉnh Điện Biên vẫn còn một khoảng trống cần được làm rõ.
Vì thế vấn đề tác giả nghiên cứu cho thấy tính cấp thiết nhằm đáp ứng yêu cầu của chương trình GDPT 2018. Một số khái niệm cơ bản của đề tài 1. Văn hóa, văn hóa nhà trường *Văn hoá Có nhiều cách hiểu khác nhau về văn hoá. Theo tác giả Thái Duy Tuyên: “Văn hóa là những giá trị vật chất và tinh thần của nhân loại, là kinh nghiệm của lịch sử XH loài người đã được hệ thống hóa, tích lũy lại qua nhiều thế kỷ và có thể truyền lại cho các thế hệ sau” [26].
Theo Từ điển tiếng Việt, văn hóa là: Tổng thể nói chung những giá trị vật chất cũng như tinh thần do con người sáng tạo ra trong quá trình lịch sử [27]. Văn hóa là sản phẩm của loài người, được tạo ra, phát triển trong quan hệ qua lại giữa con người và xã hội nhưng đồng thời, văn hóa lại tham gia vào việc tạo nên con người, duy trì sự bền vững và trật tự xã hội. Văn hóa được truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác thông qua quá trình xã hội hóa và được tái tạo, phát triển trong quá trình hành động, tương tác xã hội của con người. Từ những quan niệm trên, theo chúng tôi: “Văn hóa là một tập hợp của những đặc trưng về tinh thần, vật chất, tri thức và x cảm của một xã hội hay một nhóm người 8 trong xã hội mà nó chứa đựng, ngoài văn học và nghệ thuật còn có cả cách sống, phương thức chung sống, hệ thống giá trị, truyền thống và đức tin”.
* Văn hoá nhà trường Có nhiều cách tiếp cận nội hàm VHNT nên cũng xuất hiện nhiều khái niệm khác nhau như: VHNT là tập hợp các chuẩn mực, giá trị và niềm tin, các lễ nghi và nghi thức, các biểu tượng và truyền thống tạo ra “vẻ bề ngoài” của NT; VHNT là “một cấu trúc, một quá trình và bầu không khí của các giá trị chuẩn mực dẫn dắt GV và HS giảng dạy và học tập có hiệu quả”. VHNT là VH tổ chức gắn liền với sứ mạng và HĐ NT như một tổ chức GD, bao gồm những giá trị, nguyên tắc và truyền thống gắn kết mọi thành viên với nhau, được mọi người hiểu biết, tôn thờ, muốn sở hữu và chia sẻ, làm cho NT trở nên khác biệt, tiêu biểu cho NT, tạo nên tính thuần khiết và toàn vẹn của NT. Theo [13]: “VHNT là một tập hợp niềm tin và hành vi ứng xử, các chuẩn mực, các giá trị. VHNT là những giá trị tốt đẹp được hình thành bởi một tập thể và được mỗi cá nhân trong nhà trường chấp nhận.