Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn Chương 2: Hiện trạng tổ chức đào tạo và bảo đảm chất lượng đào tạo ngành văn hóa học Chương 3: VHCL trong hoạt động ĐBCL đào tạo ngành VHH tại Thành phố Hồ Chí Minh 13 Chư ng 1: CƠ SỞ L LUẬN VÀ THỰC TIỄN 1. C sở l luận về VHCL trong hoạt động đào tạo ngành VHH 1. Văn hóa tổ ch c Khái niệm Văn hóa là một phạm trù rộng, tùy theo mục đ ch nghiên cứu và quan điểm tiếp cận, mà c c định nghĩa về văn hóa của các học giả, các nhà nghiên cứu cho thấy những khác biệt và đặc trưng riêng của mình. Với đặc điểm nghiên cứu của đề tài, tác giả chọn trích dẫn một số định nghĩa văn hóa có t nh tổng quát cao, thiên về khía cạnh tổ chức, quản lý và hệ thống.
Pitirim Alexandrovich Sorokin, nhà xã hội học gốc Nga, người sáng lập khoa Xã hội học của ĐH Harvard Hoa Kỳ: “Với nghĩa rộng nhất, văn hóa ch tổng thể những gì được tạo ra, hay được cải biến bởi hoạt động có ý thức hay vô thức của hai hay nhiều c nhân tương t c với nhau và t c động đến lối ứng xử của nhau”. (Phạm Thái Việt và Đào Ngọc Tuấn, 2004, tr. Tác giả định nghĩa văn hóa theo góc độ tìm hiểu về nguồn gốc cấu thành của nó. Điểm nổi bật của định nghĩa này là là cách nhìn văn hóa như là một tổng thể các sản phẩm của qu trình tương t c và ứng xử của một nhóm nhiều người với nhau.
Theo Wood (1998): “Văn hóa là tập hợp những niềm tin, giá trị, th i độ, định chế, qui t c về hành vi giúp mô tả các thành viên của một cộng đồng hoặc tổ chức”. Định nghĩa này thiên về đặc trưng của một tổ chức khi dùng hệ thống ý nghĩa mà mọi thành viên trong tổ chức đều công nhận là đ ng để làm đặc trưng phân iệt với tổ chức khác.R (1980) cho rằng Văn hóa tổ chức là tập hợp hệ thống các quan niệm chung của các thành viên trong tổ chức. Những quan niệm này ph n lớn các thành viên hiểu ng m với nhau và ch thích hợp cho tổ chức riêng của họ.Tunstall (1983), Văn hóa tổ chức có thể được mô tả như một tập hợp chung c c t n ngư ng, thông lệ, hệ thống giá trị, quy chuẩn và hành vi ứng xử cũng như c ch thức hành động riêng của từng tổ chức. Các mặt đó quy định mô hình hoạt động của tổ chức và cách ứng xử của từng thành viên tổ chức đó.
14 Theo Tr n Ngọc Thêm (2013) nếu xét về đối tượng tổ chức, có thể hiểu văn hóa tổ chức là đời sống tập thể và tổ chức đời sống c nhân. Như vậy, với quan niệm của Tr n Ngọc Thêm đã quan niệm rõ ràng hơn về văn hóa vật chất bởi nó không ch là đời sống tập thể mà tồn tại song song với nó là đời sống cá nhân. Mặc dù tồn tai độc lập với nhau nhưng nó ổ trợ cho nhau để hình thành văn hóa tập thể. Lý thuyết về Văn hóa tổ chức của Edgar H.
Schein - một lý thuyết gia hàng đ u trong lĩnh vực khoa học quản lý, được trích dẫn rất phổ biến trên thế giới. Trong cuốn “Organizational culture and leadership” (do Jossey- Bass Publishers, 1985). Ông đưa ra quan niệm: “Văn hóa của một nhóm người (tổ chức) bây giờ có có thể định nghĩa như một mô hình của những giả định cơ sở mà nhóm người học được trong quá trình thích ứng với bên ngoài và hội nhập trong nội bộ khi giải quyết các vấn đề nảy sinh, mô hình này được xem là hoạt động hiệu quả và có giá trị để truyền đạt cho những thành viên mới dùng làm cách thức ứng xử đ ng đ n để nhận thức, suy nghĩ, và cảm nhận khi gặp những vấn đề tương tự” (Dẫn theo Tr n Ngọc Thêm, 2013, tr. Với quan niệm này, có thể hiểu văn hóa tổ chức là cách thức ứng xử đ ng đ n mà những thành viên học được trong quá trình thích ứng bên trong và bên ngoài nội bộ.
Như vậy, quan niệm này ch nhìn nhận “văn hóa tổ chức” theo văn hóa nhận thức và văn hóa ứng xử, chứ chưa quan niệm “văn hóa tổ chức” là hoạt động “tổ chức”. Robbins và Judge (2008) trong công trình Organizational Behavior cho rằng: “Văn hóa tổ chức đề cập đến một hệ thống ý nghĩa được chia sẻ bởi các thành viên để phân biệt tổ chức này với các tổ chức khác”. Nguyễn Viết Lộc (2009), định nghĩa một cách cụ thể: “Văn hóa tổ chức của một trường ĐH là hệ thống niềm tin, giá trị, chuẩn mực, thói quen và truyền thống được tạo ra trong quá trình lịch sử, được c c thành viên trong nhà trường thừa nhận, làm theo và in dấu ấn trong các hình thái vật chất và tinh th n, từ đó tạo nên bản s c riêng cho mỗi thiết chế tổ chức sư phạm”. Nguyễn Kim Ngân (2015) khi thực hiện luận văn “Phát triển văn hóa tổ chức tại đài tiếng nói Việt Nam”, trên quan điểm c nhân đã xem Văn ho tổ chức là toàn bộ các giá trị văn ho được xây dựng nên trong suốt quá trình hình thành và phát triển của mỗi tổ chức, trở thành các giá trị, các quan niệm tập quán, truyền thống ăn 15 sâu vào hoạt động của tổ chức đó, chi phối tình cảm, nếp suy nghĩ và hành vi của thành viên trong việc theo đuổi và thực hiện mục đ ch.
Trong môi trường chung đó những quan niệm, tập quán, ứng xử của các thành viên trong doanh nghiệp d n được hình thành và trở thành những giá trị mặc định của doanh nghiệp, mà những NV gia nhập buộc phải hoà nhập vào nên văn hóa đó. Như vậy, dù có nhiều cách hiểu khác nhau về định nghĩa văn hóa tổ chức nhưng c c t c giả đều thống nhất và cho rằng văn hóa tổ chức là các giá trị chuẩn mực của mỗi tổ chức, được các thành viên thừa nhận. Tuy nhiên, c c định nghĩa này chưa nhìn nhận văn hóa tổ chức là quy t c, hoạt động của tổ chức. Trên quan điểm cá nhân nhằm phục vụ cho đề tài nghiên cứu, tác giả xem Văn hóa tổ chức là một hệ thống các quy t c, niềm tin và ý nghĩa được mọi thành viên trong tổ chức tôn trọng chia sẻ và thống nhất hành động theo các quy t c đó.
Các cấp độ c a VH tổ ch c Nhiều nhà nghiên cứu trên thế giới đồng tình với cách nhận diện và phân chia văn hóa tổ chức theo 3 cấp độ của Schein (2004): Cấp độ I - Tạo tác hữu hình (Artifacts): Là những cái có thể nhìn thấy, dễ cảm nhận khi người ta tiếp xúc với một tổ chức hay gọi ng n gọn là những biểu hiện bên ngoài của văn hóa nhà trường. Đó có thể là Phong cách thiết kế kiến trúc xây dựng, nội - ngoại thất của nơi học tập, làm việc; Logo, khẩu hiệu, biểu trưng, c c tài liệu quảng cáo, giới thiệu về tổ chức; Cơ cấu tổ chức bộ m y, cơ chế điều hành, chức năng nhiệm vụ của cơ quan và c c đơn vị; Các triết lý, hệ thống giá trị cốt lõi, chiến lược phát triển và nguyên t c hoạt động; Trang phục, cách thức giao tiếp; qui t c ứng xử, giải quyết công việc; Các nghi lễ phổ biến, các lễ hội, hoạt động sinh hoạt tập thể; Các câu chuyện truyền khẩu về tổ chức; Công nghệ, mẫu mã sản phẩm. Cấp độ II – Hệ thống giá trị được tuyên bố (Espoused beliefs and values) : Là những niềm tin và giá trị được các thành viên trong một tổ chức thể hiện, bao gồm : các chiến lược, mục tiêu, triết lý, giá trị cốt lõi các bộ quy t c ứng xử, các cam kết, quy định… Hệ thống giá trị được tuyên bố là nền tảng, kim ch nam cho hoạt động của tổ chức, ch ng được công bố và thực hiện rộng 16 rãi, đặc biệt ở các cấp lãnh đạo, khi điều hành tổ chức, giải quyết công việc; khi ứng xử với các vấn đề bên trong và bên ngoài tổ chức. Cấp độ III - Giá trị tiềm ẩn (Underlying assumptions): Các ng m định nền tảng thường là những suy nghĩ và trạng thái xúc cảm đã ăn sâu vào tiềm thức mỗi c nhân cũng như tạo thành nét chung trong tập thể, thường được xem là quy ước có tính bất thành văn.
Tạo nên nền tảng giá trị, lối suy nghĩ, c ch hành động của c c thành viên và được họ thực hiện một cách bản năng, đồng thuận và tự giác cao, chính vì thế, những gái trị này khó có thể bị phản bác hay thay đổi. Ba cấp độ nêu trên không ch diễn ra theo hai chiều, khi mà các giá trị tiềm ẩn mới hình thành c n được thể hiện thành các giá trị hoặc tài sản hữu hình. Với ý nghĩa cấp độ càng cao thì càng khó nhận diện hơn. Shein cho rằng, bản chất của văn hóa một tổ chức là nằm ở những quan niệm chung của chúng.
Nếu nhận biết văn hóa của một tổ chức ở cấp độ một và hai chúng ta mới tiếp cận nó ở bề nổi, tức là có khả năng suy đo n c c thành viên của tổ chức đó "nói gì" trong một tình huống nào đó. Ch khi nào n m được lớp văn hóa thứ ba thì chúng ta mới có khả năng dự báo họ sẽ "làm gì" khi vận dụng những giá trị này vào thực tiễn. Văn hóa trường ĐH Khái niệm Để hiểu được khái niệm “văn hóa trường học ĐH”, c n đặt khái niệm này trong quan hệ với khái niệm “Văn hóa nhà trường”, “văn hóa học đường”, và “văn hóa đại học”. Trước hết, c n hiểu về “Văn hóa nhà trường”, Theo Kent D.
Peterson: “Văn hóa nhà trường là tập hợp các chuẩn mực, giá trị và niềm tin, các nghi lễ và nghi thức, các biểu tượng và truyền thống tạo ra “vẻ bề ngoài” của nhà trường” (Dẫn theo Nguyễn Thị Dung, 2018, tr. Theo Stephen Stolp: “Trong văn hóa nhà trường như là một cấu trúc một quá trình và b u không khí của các giá trị và chuẩn mực dẫn d t giáo viên và học sinh đến việc giảng dạy và học tập có hiệu quả” (Dẫn theo Nguyễn Thị Dung, 2018, tr. Tại Việt Nam, Trung tâm Giáo dục thường 17 xuyên t nh Thanh Hóa (2012, tr.