phần mở đầu, kết luận, và danh mục tài liệu tham khảo, luận văn được kết cấu gồm 4 chương: Chƣơng 1:Tổng quan tình hình nghiên cứu và cơ sở lý luận về quản lý vốn của doanh nghiệp Chƣơng 2:Quy trình và phương pháp nghiên cứu Chƣơng 3: Thực trạng hoạt động quản lý vốn tại Công ty Cổ phần Bột giặt LIX Chƣơng 4: Một số giải pháp nhằm góp phần hoàn thiện công tác quản lý vốn tại Công ty Cổ phần Bột giặt LIX. 3 CHƢƠNG 1: TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ VỐN CỦA DOANH NGHIỆP 1. Tổng quan tình hình nghiên cứu về quản lý vốn của doanh nghiệp Đánh giá tình hình quản lý vốn có ý nghĩa quan trọng trong lĩnh vực quản lý kinh tế, thu hút sự quan tâm của nhiều đối tượng ở bên trong cũng như bên ngoài doanh nghiệp. M i đối tượng quna tâm đến hiệu quả quản lý vốn trên một góc độ khác nhau, xong nhìn chung đều nhằm mục đích có những thông tin cần thiết cho việc ra quyết định cho phù hợp với mục tiêu của mình: Vương Đức Hoàng Quân (2018) khảo sát hoạt động của 100 doanh nghiệp trong giai đoạn 2014– 2018 nhằm đánh giá quy mô và hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp với cấu trúc vốn: nhìn t góc độ tài chính hành vi.
Kết quả cho thấy, tỷ suất lợi nhuận trên tổng tài sản (ROA) có quan hệ thuận với hệ số nợ (LEV). Dựa trên hiệu suất kinh doanh, qui mô và tài sản của doanh nghiệp, tác giả kết luận: Các doanh nghiệp có nội lực tốt thể hiện trên hiệu suất sử dụng tài sản để sinh lời có tỷ lệ nợ thấp hơn. Phan Thị Hằng Nga (2018), đã nghiên cứu mối quan hệ của quản lý vốn lưu động và xác định các yếu tố ảnh hưởng đến lợi nhuân của các doanh nghiệp niêm yết trên sàn giao dịch chứng khoán Việt Nam.Công trình có ý nghĩa thiết thực, giúp các doanh nghiệp hoàn thiện công tác quản lý vốn lưu động. Nguyễn Thanh Bình (2016) đã nêu ra việc sử dụng nguồn vốn vào đầu tư kết cấu hạ tầng đã đóng vai trò quan trọng trong việc tạo ra sự tăng trưởng kinh tế trong nhiều năm qua.
Tuy nhiên, vấn đề là ở ch hiệu quả quản lý vốn thấp, không những lãng phí các nguồn lực lớn của đất nước, mà còn gây mất cân đối vĩ mô nghiêm trọng, lạm phát cao kéo dài. Cùng với đó còn các vấn đề như hiệu quả đầu tư nguồn vốn, những mặt hạn chế, tình hình sử dụng nguồn vốn t ngân sách nhà nước t đó đưa ra một số giải pháp nhằm hoàn thiện và nâng cao hiệu quả quản lý vốn. 4 Hà Thị Thanh Huyền (2017) đã hệ thống hóa những định nghĩa t tổng quan đến cụ thể về vốn trong doanh nghiệp. Luận văn đã đưa ra định nghĩa về vốn như sau: “Vốn bao gồm toàn bộ các yếu tố kinh tế được bố trí để sản xuất hàng hóa, dịch vụ như tài sản hữu hình, tài sản vô hình, các kiến thức kinh tế, kỹ thuật của các cán bộ điều hành, c ng đội ngũ cán bộ công nhân viên trong doanh nghiệp, uy tín của doanh nghiệp.
Đồng thời, tác giả căn cứ theo đặc điểm thời gian luân chuyển vốn và nguồn hình thành vốn để đưa ra phân loại vôn. Khi phân tích hiệu quả quản lý vốn, tác giả cũng đưa ra bộ hệ thống chỉ tiêu đánh giá hiệu quả sử dụng của công ty cổ phần liên doanh tư vấn và xây dựng – COFEC để nhận xét và đưa ra các giải pháp để nâng cao hiệu quả quản lý vốn của công ty. Nguyễn Thị Thu Hà (2018) đã làm sáng tỏ các nội dung vốn cố định, vốn lưu động, tài sản cố định và tài sản lưu động của doanh nghiệp; Đưa ra các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả quản lý vốn và tài sản; Phân tích thực trạng về hiệu quả quản lý vốn và hiệu quả sử dụng tài sản của Công ty. Tác giả cũng đã đề xuất một số giải pháp nâng cao hiệu quả sử dung vốn và hiệu quả sử dụng tài sản của doanh nghiệp.
Nhưng trong đó tác giả chưa nêu được các giải pháp cụ thể sử dụng hiệu quả vốn cố định và hiệu quả sử dụng tài sản cố định tại đây Bùi Trọng Tùng, (2016) tập trung vào vấn đềbảo toàn vốn kinh doanh.Bảo toàn vốn ở các doanh nghiệp được thực hiện trong quá trình quản lý vốn vào mục đích kinh doanh, người quản lý vốn phải duy trì được giá trị đồng vốn của doanh nghiệp tạo ra.Ngoài ra, doanh nghiệp còn phải có trách nhiệm bảo toàn vốn.Tuy nhiên, luận văn lại chưa đi sâu vào việc lập kế hoạch về nhu cầu vốn và kế hoạch quản lý vốn cho kỳ kinh doanh kế tiếp. Bùi Thị Bích Thuận (2017) cũng đã tiến hành phân tích thực trạng quản lý vốn tại công ty tương đối đầy đủ, xây dựng được một hệ t hống chỉ tiêu 5 nhằm đánh giá hiệu quả quản lý vốn khá hoàn chỉnh. Đồng thời, tác giả đã so sánh các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả quản lý vốn của công ty cổ phần Kinh Đô với các doanh nghiệp có quy mô tương đương trong cũng lĩnh vực kinh doanh thực phẩm, bánh kẹo như Bibica. Nguyễn Duy Quân (2017) đã hệ thống lại cơ sở lý thuyết về vấn đề quản lý vốn một cách đầy đủ và hoàn chỉnh, đưa ra phương pháp lập kế hoạch về nhu cầu nguồn vốn và kế hoạch kinh doanh vốn cho CTCP HTG, bên cạnh đó tác giả cũng đã đưa ra những giải pháp thiết thực giúp công ty cái thiện, khắc phục những hạn chế.Ngoài ra tác giả có sử dụng một số thông tin trên các trang website tin cậy như: tapchitaichinh.vn… Các công trình nghiên cứu kể trên cho thấy vấn đề quản lý vốn tại doanh nghiệp đã được nhiều tác giả đề cập theo nhiều quan điểm, trên các khía cạnh và phạm vi khác nhau, đưa ra các chỉ tiêu phân tích, đánh giá hiệu quả quản lý vốn của doanh nghiệp.
Tuy nhiên vẫn tồn tại một số khoảng trống cần tiếp tục bổ sung nghiên cứu, đặc biệt là vấn đề quản lý vốn của doanh nghiệp có vốn nhà nước. Qua tìm hiểu, t năm 2010 đến nay chưa có công trình nghiên cứu nào đề cập đến vấn đề quản lý vốn tại CTCP Bột giặt LIX. Nghiên cứu này sẽ dựa trên cơ sở những bài nghiên cứu trước đây và bổ sung thêm những phân tích, đánh giá có liên quan đến đặc trưng của ngành và địa phương nơi doanh nghiệp đang hoạt động chủ yếu. Do đó, đề tài này về lý luận thực tiễn sẽ giúp công ty có được cái nhìn khách quan hơn, góp phần nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh của công ty trong thời gian tới.
Cơ sở lý luận về quản lý vốn tại doanh nghiệp 1. Khái niệm về vốn và quản lý vốn tại doanh nghiệp 1. Khái niệm về vốn Để tiến hành hoạt động sản xuất kinh doanh các doanh nghiệp đều phải có các yếu tố cơ bản là tư liệu lao động, đối với lao động và sức lao động. Trong quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh, các doanh nghiệp muốn tồn 6 tại và phát triển được đều cần phải có nguồn tài chính đủ mạnh.Chủ thể kinh doanh không chỉ có vốn mà còn phải biết vận động không ng ng phát triển đồng vốn đó.
Trong lý luận và thực tiễn có nhiều quan niệm khác nhau về vốn, m i quan điểm nhìn nhận vốn dưới một góc độ nhất định. Theo lý thuyết kinh tế cổ điển và tân cổ điển: vốn là một trong cá yếu tố đầu vào để sản xuất kinh doanh đất đai, tài nguyên, lao động, vốn). Theo Samuelson và Nordhaus (1948): “Vốn kinh doanh là khái niệm thường d ng để chỉ các hàng hóa là vốn kinh doanh nói chung, một nhân tố sản xuất. Một hàng hóa làm vốn kinh doanh, khác với nhâ tố sơ yếu đất đai, lao động ơ ch : Nó là một đầu vào mà bản thân là một đầu ra của một nền kinh tế gồm: vốn vật chất (nhà máy, thiết bị, kho hàng), vốn tài chính (tiền, chứng khoán, tín phiếu ”.
Quan điểm này đã cho chúng ta thấy rõ nguồn gốc hình thành vốn, trạng thái biểu hiện của vốn và đặc điểm cơ bản nhất của hàng hóa vốn là chúng v a là sản phẩm đầu ra, v a là yếu tố đầu vào của sản xuất nhưng hạn chế cơ bản của quan điểm này là chưa cho thấy mục đích sử dung của vốn kinh doanh. David Begg(2007) cho rằng: “Vốn kinh doanh là các yếu tố của sản xuất và bao gồm hai loại vốn hiện vật và vốn tài chính. Vốn tồn tại ở các hình thái hiện vật của các tài sản cố định, hàng hóa tồn kho, mặt bằng sản xuất kinh doanh,. và vốn tài chính tồn tại ở các hình thái giá trị như tiền và các giấy tờ có giá thuộc quyền sở hữu của doanh nghiệp”.
Theo ý nghĩa kinh tế, có quan điểm lại cho rằng: “Vốn bao gồm toàn bộ các yếu tố kinh tế được bố trí để sản xuất hàng hóa, dịch vụ như tài sản hữu hình, tài sản vô hình, các kiến thức về kinh tế kỹ thuật của doanh nghiệp được tích lũy, sự khéo léo về trình độ quản lý và tác nghiệp của cán bộ điều hành ùng chất lượng, đội ngũ công nhân viên trong doanh nghiệp, các lợi thế cạnh tranh như vị trí, uy tín”. 7 T các quan điểm trên, có thể hiểu: “Vốn của doanh nghiệp là một yếu tố của sản xuất, bao gồm tất cả các tài sản, tồn tại dưới hình thái tiên tệ và hiện vật mà doanh nghiệp đang sử dụng để tiến hành hoạt động sản xuất kinh doanh”. Các đặc trưng cơ bản của vốn: Thứ nhất, Vốn phải đại diện cho một lượng giá trị tài sản, điều đó có nghĩa là vốn được biểu hiện bằng giá trị của những tài sản hữu hình và vô hình như nhà xưởng, máy móc, đất đai, bản quyền phát minh sang chế… Thứ hai, Vốn phải vận động sinh lời.Vốn được biểu hiện bằng tiền nhưng tiền chỉ là dạng tiềm năng của vốn.Để biến thành vốn thì đồng tiền phải vận động sinh lời.Trong quá trình vận động, đồng vốn có thể thay đổi hình thái biểu hiện, nhưng điểm xuất phát và điểm cuối cùng của vòng tuần hoàn phải là giá trị - tiền, đồng tiền phải quay về nơi xuất phát có giá trị lớn hơn. Thứ ba, Trong nền kinh tế thị trường, vốn là một loại hàng hóa đặc biệt.Nói vốn là một loại hàng hóa vì nó có giá trị và giá trị sử dụng như mọi loại hàng hóa khác.Giá trị sử dụng của vốn thể hiện ở ch khi quản lý vốn đúng cách sẽ tạo ra một giá trị lớn hơn trước.