phần mở đầu, kết luận và tài liệu tham khảo, kết cấu luận văn đƣợc chia làm 04 chƣơng: Chƣơng 1: Tổ ng quan nghiên cứu và những vấ n đề lý luận về mô hình quản lý vốn chủ sở hữu của các doanh nghiệp 100% vốn nhà nước. Chƣơng 2: Phương pháp nghiên cứu. Chƣơng 3: Thực trạng mô hình quản lý vốn chủ sở hữu của các doanh nghiệp 100% vốn nhà nước. Chƣơng 4: Giải pháp hoàn thiện mô hình quản lý vốn chủ sở hữu của các doanh nghiệp 100% vốn nhà nước.
6 z CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN, TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU 1. Tổng quan tình hình nghiên cứu Đã có rất nhiêu đề tài nghiên cứu về quản lý vốn chủ sở hữu tại các doanh nghiệp 100% vốn nhà nƣớc. Mỗi đề tài có đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu riêng, Tuy nhiên, việc nghiên cứu này ở mỗi thời kỳ khác nhau có đóng góp khác nhau và có ý nghĩa thực tiễn khác nhau. Có thể kể đến một số các công trình nghiên cứu sau: Đề tài: “Quản lý, sử dụng vốn tại Tổng công ty khoáng sản và thƣơng mại Hà Tĩnh” Ký hiệu: LC 253 Tác giả: Nguyễn Văn Đức Chuyên ngành: Quản trị Kinh doanh Bảo vệ năm: 2007 Giáo viên hƣớng dẫn: TS.
Trần Anh Tài. Tuy nhiên, đề tài chỉ nhằm mục đích phân tích, đánh giá thực trạng quản lý vốn và hiệu quả sử dụng vốn ở tổng công ty khoáng sản và thƣơng mại Hà Tĩnh để đề xuất các giải pháp có tính khả thi nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng vốn. Đề tài: “Nâng cao hiệu quả sử dụng vốn ở Tổng công ty xây dựng Thăng Long” Ký hiệu: LC 243 Tác giả: Lê Thế Anh Chuyên ngành: Quản trị Kinh doanh Bảo vệ năm: 2007 Giáo viên hƣớng dẫn: PGS.TS Nguyễn Đức Thảo. Cũng giống nhƣ đề tài trên, đề tài này chỉ tập trung vào một doanh nghiệp để phân tích thực trạng về sử dụng vốn từ đó đề xuất những giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng vốn ở Tổng công ty xây dựng Thăng Long.
Đề tài “Một số biện pháp quản trị và nâng cao hiệu quả sử dụng vốn lƣu động tại công ty cổ phần xây lắp bƣu điện Hà Nội (HASISCO)” Ký hiệu: LC 517 Tác giả: Ngô Thu Yến Chuyên ngành: Kinh tế Chính trị Bảo vệ năm: 2010 Giáo viên hƣớng dẫn: TS. Nguyễn Thị Minh Tâm. Đề tài này cũng chỉ tập trung vào việc quản lý và sử dụng vốn lƣu động tại một công ty. Trần Xuân Long (2012) “Hoàn thiện chính sách quản lý vốn trong doanh nghiệp nhà nƣớc sau khi cổ phần hóa” Luận án Tiến sĩ học viện tài chính.
Nguyễn Thị Thu Hƣơng (2009) “Quản lý vốn nhà nƣớc tại các Doanh nghiệp sau khi cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nƣớc” Luận án Tiến sĩ học viện tài chính. Các công 7 z trình nghiên cứu này tập trung vào quản lý vốn nhà nƣớc tại các doanh nghiệp sau khi cổ phần hóa. Các tác giả chƣa nghiên cứu quản lý vốn tại các doanh nghiệp 100% vốn nhà nƣớc. Đồng thời tất cả các đề tài trên mới chỉ tập trung vào xử lý những vấn đề cụ thể của các công ty cụ thể mà chƣa có cái nhìn tổng quát về tình hình quản lý vốn của nhà nƣớc đối với doanh nghiệp 100% vốn nhà nƣớc.
Cơ sở lý luận và thực tiễn về doanh nghiệp 100% vốn nhà nƣớc 1. Khái niệm Quản lý đƣợc định nghĩa là một công việc mà một ngƣời lãnh đạo học suốt đời không thấy chán và cũng là sự khởi đầu của những gì họ nghiên cứu. Quản lý đƣợc giải thích nhƣ là nhiệm vụ của một nhà lãnh đạo thực thụ, nhƣng không phải là sự khởi đầu để họ triển khai công việc. Nhƣ vậy, có bao nhiêu nhà lãnh đạo tài ba thì có bấy nhiêu kiểu định nghĩa và giải thích về quản lý.
Mỗi khái niệm quản lý của mỗi ngƣời sẽ có những tƣ tƣởng, kinh nghiệm, kiến thức của cá nhân trong đó. Tuy nhiên vẫn có một khái niệm chung nhất để hiểu quản lý là gì. Xét trên phƣơng diện nghĩa của từ, quản lý thƣờng đƣợc hiểu là chủ trì hay phụ trách một công việc nào đó. Bản thân khái niệm quản lý có tính đa nghĩa nên có sự khác biệt giữa nghĩa rộng và nghĩa hẹp.
Hơn nữa, do sự khác biệt về thời đại, xã hội, chế độ, nghề nghiệp nên quản lý cũng có nhiều giải thích, lý giải khác nhau. Cùng với sự phát triển của phƣơng thức xã hội hoá sản xuất và sự mở rộng trong nhận thức của con ngƣời thì sự khác biệt về nhận thức và lý giải khái niệm quản lý càng trở nên rõ rệt. Xuất phát từ những góc độ nghiên cứu khác nhau, rất nhiều học giả trong và ngoài nƣớc đã đƣa ra giải thích không giống nhau về quản lý. Cho đến nay, vẫn chƣa có một định nghĩa thống nhất về quản lý.
Đặc biệt là kể từ thế kỷ 21, các quan niệm về quản lý lại càng phong phú. Các trƣờng phái quản lý học đã đƣa ra những định nghĩa về quản lý nhƣ sau: - Tailor: "Làm quản lý là bạn phải biết rõ: muốn ngƣời khác làm việc gì và hãy chú ý đến cách tốt nhất, kinh tế nhất mà họ làm". Với định nghĩa này Tailor chỉ 8 z tập trung vào việc chỉ đạo, điều hành và lấy lợi ích kinh tế tối đa để kiểm soát ngƣời khác làm việc. - Fayel: "Quản lý là một hoạt động mà mọi tổ chức (gia đình, doanh nghiệp, chính phủ) đều có, nó gồm 5 yếu tố tạo thành là: kế hoạch, tổ chức, chỉ đạo, điều chỉnh và kiểm soát.
Quản lý chính là thực hiện kế hoạch, tổ chức, chỉ đạo điều chỉnh và kiểm soát ấy”. Fayel thì lại tập trung vào việc xây dựng và thực hiện các kế hoạch. Thông qua các phƣơng pháp thực hiện kế hoạch mà có thể tổ chức quản lý. - Hard Koont: "Quản lý là xây dựng và duy trì một môi trƣờng tốt giúp con ngƣời hoàn thành một cách hiệu quả mục tiêu đã định".
Nhƣ vậy, với quan điểm này việc xây dựng và duy trì môi trƣờng tốt cho ngƣời thực hiện nhiện nhiệm vụ lại quan trọng mà không quan trọng mục tiêu đặt ra khi quản lý. Druker: "Suy cho cùng, quản lý là thực tiễn. Bản chất của nó không nằm ở nhận thức mà là ở hành động; kiểm chứng nó không nằm ở sự logic mà ở thành quả; quyền uy duy nhất của nó là thành tích". Với quan điểm này thì Peter F Drunker quá tập trung vào kết quả mà không quan tâm đến tiến trình và phƣơng pháp thực hiện để đạt đƣợc kết quả đó.
Dalark: "Định nghĩa quản lý phải đƣợc giới hạn bởi môi trƣờng bên ngoài nó. Theo đó, quản lý bao gồm 3 chức năng chính là: Quản lý doanh nghiệp, quản lý giám đốc, quản lý công việc và nhân công". Khái niệm quản lý này lại quá tập trung vào môi trƣờng bên trong của hoạt động quả lý. Do đó, khó có tính linh hoạt và dễ bị ảnh hƣởng bởi môi trƣờng bên ngoài.
Chủ trƣơng của Peter. Dalark là giới hạn doanh nghiệp từ góc độ xã hội, lấy quản lý làm chức năng chính của doanh nghiệp. Vì thế, quản lý trở thành chức năng và vai trò của tổ chức xã hội, nó cũng sẽ thông qua các doanh nghiệp góp phần xây dụng chế độ xã hội mới để đạt đƣợc mục tiêu lý tƣởng là "một xã hội tự do và phát triển". Nếu không có quản lý hiệu quả thì doanh nghiệp không thể tồn tại và từ đó không thể xây dựng một xã hội tự do và phát triển.
Với khái niệm này thì việc quản lý lại quá tập trung vào môi trƣờng bên ngoài, không quan tâm, không để ý đến nội bộ của đối tƣợng quản lý. 9 z Có chuyên gia cho rằng “Quản lý là quá trình thực hiện các tác động của chủ thể quản lý lên đối tƣợng quản lý để phối hợp hoạt động của các cá nhân và tập thể nhằm đạt đƣợc các mục tiêu đã đề ra của tổ chức”. Với khái niệm này quản lý chỉ thấy đƣợc về mặt hình thức mà không đi vào thực chất, đi vào nội dung của khái niệm. Tóm lại, quản lý là quan niệm chứ không phải kỹ thuật, là tự do chứ không phải bị khống chế, là nhiệm vụ thực tế chứ không phải lý luận; là thành tích chứ không phải tiềm năng, là trách nhiệm chứ không phải quyền lực; là cống hiến chứ không phải thăng tiến; là cơ hội chứ không phải chƣớng ngại; là đơn giản chứ không phải phức tạp; là tác động của môi trƣờng trong và ngoài đối tƣợng quản lý chứ không phải là duy nhất; là kết quả chứ không phải là kế hoạch; là hiệu quả chứ không phải tồn tại.
Có thể kể ra nhiều ý kiến khác nhau về định nghĩa quản lý, trên đây chỉ là một vài ý kiến mang tính đại diện trên cơ sở phân tích tổng hợp những quan điểm không giống nhau. Tóm lại, những quan điểm đó tuy rất rõ ràng, đúng đắn, nhƣng chƣa đầy đủ. Chúng chỉ chú trọng đến quản lý nhƣ là một hiện tƣợng chứ chƣa làm bộc lộ rõ bản chất của nó. Nhƣ vậy, quản lý là gì? Nhƣ chúng ta đều biết, hoạt động quản lý thực chất cũng là một hành vi, đã là hành vi thì phải có ngƣời thực hiện và ngƣời chịu tác động.
Tiếp theo cần có mục đích của hành vi, đặt ra câu hỏi tại sao làm nhƣ vậy? Do đó, để hình thành nên hoạt động quản lý trƣớc tiên cần có chủ thể quản lý: nói rõ ai là ngƣời quản lý? Sau đó cần xác định đối tƣợng quản lý: quản lý cái gì? Cuối cùng cần xác định mục đích quản lý: quản lý vì cái gì? Có đƣợc 3 yếu tố đó là điều kiện cơ bản để hình thành nên hoạt động quản lý. Đồng thời cần chú ý rằng, bất cứ hoạt động quản lý nào cũng không phải là hoạt động độc lập, nó cần đƣợc tiến hành trong môi trƣờng, điều kiện nhất định nào đó mà không tách rời, xa cách. Tóm lại: Quản lý là nghệ thuật hoàn thành các mục tiêu công việc thông qua ngƣời khác; là quá trình lập kế hoạch, tổ chức, lãnh đạo và kiểm tra công việc của các chủ thể bị quản lý, sử dụng các nguồn lực sẵn có thông qua phối hợp, kiểm soát môi 10 z trƣờng xung quanh để đạt đƣợc các mục tiêu của tổ chức. Nhƣ vậy chức năng cơ bản của quản lý là: Lập kế hoạch, tổ chức, lãnh đạo, chỉ đạo, phối hợp và kiểm tra.
Các yếu tố của quản lý Với những phân tích trên mọi hoạt động quản lý đều phải do 4 yếu tố cơ bản sau cấu thành: - Chủ thể quản lý, trả lời câu hỏi: do ai quản lý?