Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ XÂY DỰNG VĂN HÓA ỨNG XỬ TẠI TRƯỜNG TRUNG HỌC CƠ SỞ 1. Lí luận về văn hóa ứng xử trong trường trung học cơ sở 1. Văn hóa nhà trường 1. Khái niệm văn hóa nhà trường Trước khi trình bầy và phân tích khái niệm văn hóa nhà trường, nghiên cứu xác định khái niệm văn hóa như sau: - Khái niệm văn hóa Văn hóa là chủ đề nghiên cứu được nhiều ngành khoa học xã hội và nhân văn quan tâm, vì vậy các định nghĩa về văn hóa hiện nay rất đa dạng.
Nhìn chung, định nghĩa về văn hóa có thể quy về hai cách hiểu chính: theo nghĩa rộng và theo nghĩa hẹp. Theo nghĩa rộng, văn hóa thường được xem là bao gồm tất cả những gì do con người sáng tạo ra. Trong cuốn “Hồ Chí Minh toàn tập”, Chủ tịch Hồ Chí Minh cho rằng: “Vì lẽ sinh tồn cũng như mục đích của cuộc sống, loài người mới sáng tạo và phát minh ra ngôn ngữ, chữ viết, đạo đức, pháp luật, khoa học, tôn giáo, văn học nghệ thuật, những công cụ cho sinh hoạt hàng ngày về mặc, ăn, ở và các phương thức sử dụng. Toàn bộ những sáng tạo và phát minh đó là văn hóa”[16].
Theo đó, văn hóa bao gồm toàn bộ sản phẩm của trí tuệ nhân loại. Theo nghĩa hẹp, văn hóa được giới hạn theo thành phần cấu thành nên văn hóa. Theo hướng này, nổi bật 3 khuynh hướng định nghĩa văn hóa. Khuynh hướng thứ nhất coi văn hóa là những kết quả (sản phẩm) nhất định.
Đó có thể là những giá trị, những truyền thống, những nếp sống, những chuẩn mực, những tư tưởng, những thiết chế xã hội, những biểu trưng, ký hiệu, những thông tin… mà một cộng đồng đã sáng tạo, kế thừa, và tích luỹ. Có thể kể đến các định nghĩa về văn hóa của UNESCO, Trần Ngọc Thêm [25],… Khuynh hướng thứ hai xem văn hóa như một quá trình. Đó có thể là những hoạt động sáng tạo, những công nghệ, những quy trình, những phương thức tồn tại, sinh sống và phát triển, cách thức thích ứng với môi trường, phương thức ứng xử của con người. Tiêu biểu cho khuynh hướng này là quan điểm của Ban Chấp hành Trung ương khóa VIII [5] về văn hóa và vai trò của văn hóa trong đời sống con người.
8 Khuynh hướng thứ ba xem văn hóa như những quan hệ, những cấu trúc giữa các giá trị, giữa con người với đồng loại và muôn loài. Có thể kể đến một số tác giả tiêu biểu cho khuynh hướng này như Phan Ngọc [19],… Tất cả các khuynh hướng định nghĩa khác nhau ấy đều có tính hợp lý. Dù theo khuynh hướng nào cũng có thể thấy một điểm chung cốt lõi và khá nhất quán thể hiện một cách phổ biến qua hầu hết các khái niệm văn hóa, đó là sự nhấn mạnh yếu tố con người. Văn hóa là những gì gắn với con người, thuộc về con người và đời sống của con người.
Từ các định nghĩa đã nêu, trong luận văn này, chúng tôi lựa chọn định nghĩa văn hóa theo nghĩa hẹp để nêu bật cấu trúc và vai trò của văn hóa, làm cơ sở để thao tác hóa các khái niệm của đề tài. Chúng tôi sử dụng định nghĩa của UNESCO về văn hóa như sau: Văn hóa là tập hợp những đặc trưng về tâm hồn, vật chất, tri thức và xúc cảm của một xã hội hay một nhóm người trong xã hội mà nó chứa đựng, ngoài văn học và nghệ thuật còn có cả cách sống, phương thức chung sống, hệ thống giá trị, truyền thống và đức tin. [29] Định nghĩa này cho thấy một số đặc trưng cơ bản của văn hóa. Thứ nhất, văn hóa là khái niệm vừa mang nghĩa rộng (đặc điểm chung của một xã hội, một cộng đồng) lại vừa mang nghĩa hẹp (đặc trưng riêng của cộng đồng người này so với cộng đồng người khác).
Văn hóa thể hiện rõ nét dấu ấn đặc trưng của một cộng đồng, một xã hội cụ thể. Thứ hai, văn hóa gồm nhiều tầng bậc, từ những tầng bậc ngầm như đức tin, hệ thống giá trị đến những tầng bậc nổi như văn học, nghệ thuật, cách sống, phương thức chung sống… - Khái niệm văn hóa nhà trường Nhà trường là một tổ chức chính trị - xã hội, một cộng đồng có những đặc trưng riêng. Vì thế, VHNT vừa mang những thành phần của văn hóa nói chung vừa thể hiện những đặc điểm riêng biệt của tổ chức nhà trường. Peterson (2009) định nghĩa: “Văn hóa nhà trường là tập hợp các chuẩn mực, giá trị và niềm tin, các nghi lễ và nghi thức, các biểu tượng và truyền thống tạo ra “vẻ bề ngoài” của nhà trường” [33] 9 Theo tác giả Trần Văn Dàng: “VHNT được hiểu là tập hợp các chuẩn mực, giá trị và niềm tin, các nghi thức, biểu tượng và truyền thống đặc trưng riêng của nhà trường, tạo động lực thúc đẩy các thành viên tổ chức hoạt động giáo dục, dạy học, làm việc có chất lượng, phát triển bền vững phẩm chất, năng lực của học sinh theo yêu cầu của xã hội” [2] Các tác giả Nguyễn Vũ Bích Hiền (chủ biên), Nguyễn Thị Minh Nguyệt, Nguyễn Xuân Thanh cho rằng: VHNT là một tập hợp các chuẩn mực, các giá trị, niềm tin và hành vi ứng xử,…VHNT là những nét đặc trưng riêng biệt tạo nên sự khác biệt của nhà trường với các tổ chức khác và sự khác biệt giữa trường này với trường khác.
VHNT liên quan tới toàn bộ đời sống vật chất và tinh thần của một nhà trường. VHNT là những giá trị tốt đẹp được hình thành bởi một tập thể và được mỗi cá nhân trong nhà trường chấp nhận. VHNT tốt hướng tới chuẩn chất lượng cao [11] Nhìn chung, các định nghĩa về VHNT đều chỉ rõ vai trò của VHNT trong việc định hình và thúc đẩy sự phát triển của nhà trường. Trong luận văn này, chúng tôi lựa chọn định nghĩa của tác giả Trần Quốc Thành vì định nghĩa này dễ thao tác hóa.
Theo đó, VHNT được định nghĩa là: VHNT là hệ thống giá trị, niềm tin, chuẩn mực, thói quen và truyền thống hình thành trong quá trình phát triển của nhà trường, được các thành viên trong nhà trường thừa nhận, làm theo và được thể hiện trong các hình thái vật chất và tinh thần, từ đó tạo nên bản sắc riêng cho mỗi nhà trường, giúp ta phân biệt nhà trường này với nhà trường khác [23] Từ những định nghĩa trên, có thể rút ra những đặc điểm cơ bản của VHNT như sau: Thứ nhất, VHNT có cấu trúc tương tự như văn hóa. VHNT gồm những yếu tố bề nổi và những yếu tố ngầm, là tập hợp các chuẩn mực, các giá trị, niềm tin và hành vi ứng xử. trong nhà trường. Thứ hai, VHNT là văn hóa của một cộng đồng, mà cụ thể là cộng đồng giáo viên – học sinh của nhà trường.
VHNT tạo nên những đặc trưng riêng biệt của nhà trường với các tổ chức chính trị - xã hội khác và sự khác biệt giữa trường này với trường khác. Cấu trúc của văn hóa nhà trường Về cấu trúc của VHNT, hiện tồn tại hai lý thuyết chính về cấu trúc của VHNT: lý thuyết tảng băng (2 tầng bậc) và lý thuyết 3 tầng bậc của văn hóa nhà trường. 10 Lý thuyết tảng băng được đưa ra bởi Frank Gonzales (1978), trong đó VHNT được chia thành những yếu tố bề nổi và những yếu tố bề sâu. Những yếu tố bề nổi như tầm nhìn, mục tiêu, khung cảnh, logo, khẩu hiệu, đồng phục, nghi lễ, các hoạt động học tập của nhà trường… thường dễ quan sát và dễ thay đổi; trong khi các yếu tố bề sâu như nhu cầu, cảm xúc, mong muốn của các thành viên trong nhà trường, quyền lực, giá trị, chuẩn mực… thường khó quan sát và bền vững, khó thay đổi.
Lý thuyết 3 tầng bậc của Edgar Schein xác định 3 tầng bậc của VHNT gồm: tầng thứ nhất – các yếu tố hữu hình, tầng thứ hai – các giá trị, niềm tin, chuẩn mực trong nhà trường, và tầng thứ ba – các giả định ngầm về cách thức vận hành nhà trường và mối quan hệ giữa con người với con người trong nhà trường (dẫn theo Nguyễn Thị Mỹ Lộc). Hai lý thuyết này có nhiều điểm tương đồng, đặc biệt là quan niệm tương đồng về những thành phần hữu hình và vô hình của VHNT cũng như tính chất của các thành phần này. Sự khác biệt giữa hai lý thuyết nằm ở chỗ lý thuyết 3 tầng bậc của Schein nhấn mạnh hơn vào tầng giả định ngầm, coi đây là nền tảng cho các thành tố còn lại của VHNT. Trong luận văn này, chúng tôi sử dụng lý thuyết tảng băng để xác định các thành phần của VHNT nói chung và các văn hóa thành phần của VHNT nói riêng.
Lý thuyết tảng băng đưa ra cấu trúc VHNT một cách đơn giản nhưng rõ ràng, phù hợp để thao tác cho các văn hóa thành phần của VHNT, cụ thể là VH ứng xử - đối tượng nghiên cứu chính của đề tài này. Như vậy, VHNT gồm 2 thành phần: những yếu tố bề nổi (tầm nhìn, mục tiêu, khung cảnh, logo, khẩu hiệu, đồng phục, nghi lễ, các hoạt động dạy và học của nhà trường…) và các yếu tố bề sâu (nhu cầu, cảm xúc, mong muốn của các thành viên trong nhà trường, quyền lực, giá trị, chuẩn mực). Biểu hiện của văn hóa nhà trường Dựa trên lý thuyết tảng băng của Frank Gonzales, VHNT được cụ thể hóa thành các biểu hiện sau: - Các yếu tố bề nổi của VHNT, bao gồm: Các yếu tố ngoại cảnh như kiến trúc, hiện vật, logo và các biểu tượng của nhà trường; sứ mệnh, tầm nhìn của nhà trường; các nghi lễ, truyền thống, nghi thức trong nhà trường; hoạt động của giáo viên, học sinh và cán bộ trong nhà trường, bao gồm các hoạt động cá nhân, hoạt động tập thể, phong cách làm việc…; các quan hệ trong nhà trường, thể hiện ở bầu không khí sư phạm trong nhà trường, thái độ của các thành viên trong nhà trường… 11 - Các yếu tố bề sâu của VHNT: Các giá trị được các thành viên trong nhà trường chia sẻ; các chuẩn mực về ứng xử, làm việc và học tập trong nhà trường; nhu cầu, mong muốn của các thành viên trong nhà trường; sự phân bổ quyền lực trong nhà trường. Văn hóa ứng xử tại nhà trường trung học cơ sở 1.
Một số khái niệm - Khái niệm văn hóa ứng xử VH ứng xử được xác định là một bộ phận của văn hóa; VH ứng xử trong nhà trường là một bộ phận của văn hóa nhà trường. Nhiều tác giả đã đưa ra các định nghĩa khác nhau về VH ứng xử và VH ứng xử học đường.